Bệnh thủy đậu lây lan ra sao?

Bệnh thủy đậu lây lan ra sao?-Đối với những người đã từng bị thủy đậu hồi nhỏ , khả năng tái phát bệnh thủy đậu sau này tương đối cao . Vì vậy, việc nhận biết và phòng ngừa bệnh thủy đậu vô cùng quan trọng 

Benh-thuy-dau-lay-lan-ra-sao2

Bệnh thủy đậu lây lan ra sao?

Bệnh thủy đậu còn biết với tên gọi khác là trái rạ. Cả trẻ em và người lớn đều có nguy cơ nhiễm bệnh này. Tuy nhiên, lứa tuổi mắc nhiều nhất là trẻ em trong độ tuổi đi học, đa số là trẻ từ năm đến 13 tuổi. Đây là một bệnh có tính lây nhiễm rất cao, nếu trẻ em chưa được tiêm ngừa hoặc chưa từng bị thủy đậu thì 90% có thể bị thủy đậu khi tiếp xúc gần với người bị bệnh thủy đậu. Bệnh lây chủ yếu qua đường không khí, tiếp xúc với dịch tiết của nốt rạ. Mặt khác, bệnh cũng có thể truyền từ mẹ sang con nếu người mẹ đang mang thai bị nhiễm thủy đậu. Một điểm hết sức lưu ý đối với bệnh này là khi chưa nổi mụn nước, nghĩa là trước khi phát ban 1-2 ngày, trẻ mang siêu vi trùng thủy đậu đã có khả năng gây bệnh cho trẻ khác, khả năng lây lan này còn kéo dài vài ngày sau khi mụn nước đã đóng vảy. Do vậy, dù cách ly trẻ bị thủy đậu là bắt buộc nhưng không hiệu quả trong phòng tránh bệnh. Điều này giải thích vì sao khi trong lớp học hoặc trường học có trẻ bị bệnh thì bệnh lây lan rất nhanh và lây dai dẳng.

Bệnh lây qua đường hô hấp khi người lành hít phải những giọt li ti trong không khí thải ra từ mũi họng do người bệnh ho hoặc hắt hơi, hoặc lây qua tiếp xúc với mụn nước của người bệnh. Thậm chí có thể lây khi trẻ tiếp xúc với dụng cụ học tập, quần áo, đồ chơi… có chứa siêu vi trùng gây bệnh. Mặt khác bệnh cũng truyền qua nhau thai từ mẹ sang con nếu người mẹ đang mang thai bị nhiễm thủy đậu.

Thủy đậu có phải là bệnh nhẹ?

Bệnh có dễ biến chứng và nguy hiểm đến tính mạng?

Bệnh thủy đậu lây lan ra sao?

- Thủy đậu là bệnh rất hay lây nhưng đa số thường nhẹ và lành tính nếu không có biến chứng. Khi bệnh diễn tiến tốt, bảy ngày sau các bóng nước bắt đầu khô lại, đóng vảy… Nếu người mẹ bị thủy đậu vào ba tháng cuối của thai kỳ thì trẻ sinh ra có thể bị sẹo ngoài da, teo cơ, chậm phát triển tâm thần. Nếu mẹ bị thủy đậu năm ngày trước khi sinh, tỉ lệ tử vong của trẻ sơ sinh là 30% và tỉ lệ thủy đậu sơ sinh là 17-30%. Ở những người có hệ miễn dịch kém, bị ung thư hệ bạch huyết, người đang dùng corticoides liều cao kéo dài… thời gian hồi phục sau thủy đậu kéo dài gấp ba lần người khác và tỉ lệ tử vong lên đến 15%.

Nên chủ động chủng ngừa cho trẻ trước khi mùa dịch xảy ra

Phương pháp tốt nhất để phòng ngừa thủy đậu là chủ động chủng ngừa bằng vaccine. Tốt nhất là nên chủng ngừa trước khi dịch xảy ra cũng như trước khi con bạn đến trường. đây là phương pháp chủ động và hiệu quả nhất hiện nay. Vaccine ngừa bệnh thủy đậu là vaccine sống giảm độc lực, cơ thể cần 3 tuần tạo ra kháng thể ngừa bệnh, vì vậy nên chủng ngừa cho trẻ trước khi dịch xảy ra. Hơn nữa trong mùa dịch nhu cầu chủng ngừa tăng cao trong khi khả năng cung cấp vaccine bị hạn chế không đáp ứng đủ nhu cầu. Do đó, cần chủng ngừa càng sớm càng tốt, tốt nhất là 1,2 tháng trước mùa dịch, không nên đợi đến khi có dịch mới chủng ngừa, để đảm bảo trẻ được bảo vệ tốt nhất.

Để bảo vệ tối ưu thì nên chủng ngừa bằng 2 liều vaccine cách nhau ít nhất là 6 tuần. Đối tượng cần chủng ngừa là trẻ em, thanh thiếu niên và người lớn chưa mắc bệnh thủy đậu. Phụ nữ có thai thì không chích ngừa vaccine này và tốt nhất chỉ nên có thai 3 tháng sau khi chủng ngừa. Các bậc phụ huynh hãy đưa trẻ đến các cơ sở y tế gần nhất để được tư vấn chủng ngừa phòng bệnh thủy đậu để yên tâm là con mình đã được bảo vệ trước khi mùa dịch sắp đến. Việc chủng ngừa không chỉ giúp các bé tránh được bệnh mà còn ngăn chặn việc lây lan cho người xung quanh và tránh được sự bùng phát dịch hàng năm trong cộng đồng.

Đối với người bị bệnh thủy đậu cần:

- Nằm trong phòng riêng, thoáng khí, có ánh sáng mặt trời, thời gian cách ly là khoảng 7 đến 10 ngày từ lúc bắt đầu phát hiện bệnh (phát ban) cho đến khi các nốt phỏng nước khô vảy hoàn toàn (người lớn phải nghỉ làm, học sinh phải nghỉ học).

- Sử dụng các vật dụng sinh hoạt cá nhân riêng: khăn mặt, ly, chén, muỗng, đũa.

- Vệ sinh mũi họng hàng ngày bằng dung dịch nước muối sinh lý 90/00.

- Thay quần áo và tắm rửa hàng ngày bằng nước ấm trong phòng tắm.

- Nên mặc quần áo rộng, nhẹ, mỏng.

- Đối với trẻ em: nên cắt móng tay cho trẻ, giữ móng tay trẻ sạch hoặc có thể dùng bao tay vải để bọc tay trẻ nhằm tránh biến chứng nhiễm trùng da thứ phát do trẻ gãi gây trầy xước các nốt phỏng nước.

- Ăn các thức ăn mềm, lỏng, dễ tiêu, uống nhiều nước, nhất là nước hoa quả.

- Dùng dung dịch xanh Milian (xanh Methylene) để chấm lên các nốt phỏng nước đã vỡ.

- Trường hợp sốt cao, có thể dùng các thuốc hạ sốt giảm đau thông thường nhưng phải theo hướng dẫn của thầy thuốc, có thể dùng kháng sinh trong trường hợp nốt rạ bị nhiễm trùng: nốt rạ có mủ, tấy đỏ vùng da xung quanh… Tuyệt đối không được dùng thuốc Aspirin để hạ sốt.

- Nếu bệnh nhân cảm thấy: Khó chịu, lừ đừ, mệt mỏi, co giật, hôn mê hoặc có xuất huyết trên nốt rạ nên đưa đến ngay các cơ sở y tế để được theo dõi và điều trị.

Đối với người thân trong gia đình:

- Hạn chế tiếp xúc với người bệnh: Khi cần tiếp xúc thì phải đeo khẩu trang. Sau khi tiếp xúc phải rửa tay ngay bằng xà phòng. Đặc biệt những phụ nữ đang mang thai cần tuyệt đối tránh tiếp xúc với người bệnh.

- Vệ sinh phòng ở của người bệnh: Lau sàn phòng, bàn ghế, tủ giường, đồ chơi của người bệnh hàng ngày bằng nước Javel, hoặc dung dịch Cloramin B, sau đó rửa lại bằng nước sạch. Đối với những đồ vật nhỏ có thể đem phơi nắng.

Share Button

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

You may use these HTML tags and attributes: <a href="" title=""> <abbr title=""> <acronym title=""> <b> <blockquote cite=""> <cite> <code> <del datetime=""> <em> <i> <q cite=""> <strike> <strong>