Bệnh trầm cảm ở lứa tuổi thiếu niên

Có một thực tế đáng lo ngại: chứng trầm cảm thường không được coi là bệnh, nhất là khi nó biểu hiện ở lứa tuổi thiếu niên. Vì vậy, việc phòng chống, điều trị căn bệnh này càng trở nên khó khăn, phức tạp nhất là khi tình trạng “nhiễm” trầm cảm ngày càng trở nên phổ biến ở học sinh thành phố.

Các khảo sát liên ngành giáo dục – y tế gần đây cho thấy 27% nữ sinh THPT và 16% nam sinh có những biểu hiện của bệnh trầm cảm. Khoảng 3% học sinh có hành vi cố ý gây thương tích cho bản thân. Các tác giả tham gia chương trình khảo sát nhận thấy: 21% số học sinh được khảo sát từng bỏ học, 19% uống rượu, 16% hút thuốc lá, 11% đua xe. 6% từng gây rối trật tự nơi công cộng, đánh nhau có vũ khí hoặc đã quan hệ tình dục…

Nguyên nhân

Nhiều gia đình có con ở độ tuổi từ 10-18 thường cho rằng những thay đổi bất thường trong tính cách, hành vi của chúng chỉ là hiện tượng sinh lý bình thường khi cơ thể bắt đầu dậy thì. Điều này không sai. Tuy nhiên thực tế cuộc sống ở những thành phố lớn cho thấy: Tình trạng tâm lý thiếu niên có những biến đổi tiêu cực sẽ là sự bắt đầu cho chứng bệnh trầm cảm vô cùng nguy hiểm.

Theo các bác sĩ tâm thần, những biểu hiện thường gặp nhất là các em dễ nóng nảy, bực tức một cách vô cớ, không cảm thấy hứng thú với bất cứ chuyện gì, ngay cả những việc mình yêu thích trước đây (như chơi thể thao, nghe nhạc, chat…); thỉnh thoảng lại rơi vào trạng thái vô thức trong thời gian ngắn. Ngoài ra, còn có các dấu hiệu phụ như thường xuyên có cảm giác buồn rầu hoặc mệt mỏi, chỉ muốn ngồi yên một chỗ, không thích hoạt động thể chất hay tiếp xúc với bất cứ ai…

Theo các bác sĩ tâm thần, nguyên nhân phần nhiều là do những áp lực trong việc học hành và hoàn cảnh gia đình, do bản thân các em hoặc người thân tạo ra. Ở lứa tuổi này, các em thường bắt đầu đặt cho mình những mục tiêu trong các lĩnh vực học hành, thể thao, hình dáng bản thân… để phấn đấu thực hiện. Mọi mơ ước đều tốt đẹp, chỉ có điều mức “điểm chuẩn“ mà các em đặt ra thường quá cao, tương đương với thần tượng của mình, nên khó mà đạt được. Hậu quả là thất vọng, tự ti về giá trị bản thân… dẫn đến những suy nghĩ tiêu cực, khủng hoảng tinh thần.

Nặng nề hơn nữa là sức ép của cha mẹ đối với con cái: phải là học sinh xuất sắc, đậu vào trường này trường nọ, trở thành người này, người kia… Cứ vậy, những điệp khúc ấy cứ như nhịp gõ của chiếc búa tạ đều đặn “tra tấn” tinh thần con trẻ. Rồi luyện thi, học thêm đủ mọi thứ… Tất cả thời gian, tâm trí đều dành cho việc học hành làm các em dễ dàng rơi vào trạng thái căng thẳng, “nổi nóng” với tất cả mọi chuyện; nặng nề hơn là không kiểm soát được lý trí, suy nghĩ của mình.

Không khí nặng nề trong gia đình thiếu hạnh phúc cũng là nguyên nhân chính dẫn đến chứng trầm cảm cho những đứa con, mà thường là tâm điểm để những bậc cha mẹ “giận cá chém thớt”.

Biểu hiện

Hiện nay, không chỉ trong phạm vi gia đình mà cả ở xã hội, việc chú ý phòng chống, chữa trị căn bệnh này chỉ mới được tiến hành trên một số khía cạnh chứ chưa được toàn diện. Vì vậy, những trường bợp được đưa đến bệnh viện thường đã phát triển tới mức thành bệnh tâm thần dạng nặng, loạn thần kinh… Trong khi đó, theo các chuyên gia tâm thần, nếu chứng bệnh này được phát hiện sớm, hiệu quả điều trị có thể đạt đến 80-90%. Còn ngược lại, di chứng sẽ để lại rất lâu dài.

Những nghiên cứu của giới y khoa thế giới cho thấy gần 1/2 số người trên 40 tuổi mắc bệnh trầm cảm và có hành động tự tử đã từng mắc chứng bệnh này lúc còn nhỏ.

Vì vậy, các bác sĩ, chuyên gia tâm thần khuyên rằng các bậc phụ huynh, giáo viên hãy chú ý: Nếu con trẻ có 4 trong các biểu hiện dưới đây trở lên thì nên đưa đến bác sĩ càng nhanh càng tốt:

– Khí sắc trầm, có cảm giác buồn bã, trống rỗng trong nhiều ngày liền.

– Giảm rõ rệt sự quan tâm, hứng thú với hầu hết các hoạt động. Tình trạng này diễn ra trong nhiều ngày.

– Tăng cảm giác hoặc biếng ăn hoặc thèm ăn, dẫn đến việc tăng hay giảm cân đáng kể (cụ thể là thay đổi 5% trọng lượng cơ thể trong vòng một tháng).

– Khó ngủ, hoặc mất ngủ.

– Tăng quá mức hoặc suy giảm vận động. Dễ bị kích động hoặc có phản xạ chậm chạp.

– Mệt mỏi, có cảm giác như bị mất năng lượng từng ngày.

– Tự ti về sự vô dụng của bản thân, hoặc bị dằn vặt một cách vô lý bởi cảm giác tội lỗi, thậm chí ở mức hoang tưởng.

– Giảm khả năng tập trung suy nghĩ, không thể tự phán đoán, quyết định.

– Nhiều lần nghĩ về cái chết, có ý định tự tử.

Thường thì những diễn biến tâm trạng này khó nhận ra ngay được, nhưng nếu chịu khó quan sát thường xuyên, từ những thay đổi nhỏ nhất, cha mẹ có thể nhận ra con mình đang ở mức độ nào.

Và cách chữa trị

Trầm cảm là bệnh về cảm xúc, do đó việc chữa trị phải kết hợp thuốc và tâm lý.

Có ba phương pháp điều trị cơ bản: dùng thuốc, tâm lý trị liệu và sốc điện.Thường phải mất khoảng 20–30 ngày mới thấy được kết quả điều trị. Ðôi khi buộc phải thử một số thuốc chống trầm cảm khác nhau, hoặc với nhiều liều lượng khác nhau, để tìm được loại thuốc tốt nhất cho điều trị. Các thuốc thường dùng trên lâm sàng là: Amitriptyline, Desipramine, Imipramine, Tianeptine.

Sự thành công của điều trị phụ thuộc người bệnh bị loại trầm cảm nào, độ nặng, thời gian bao lâu và thích ứng như thế nào đối với thuốc và tâm lý trị liệu đang áp dụng. Khoảng 70-80% bệnh nhân được cải thiện tốt nhờ uống thuốc, bất kể trầm cảm nặng hoặc nhẹ, mới xuất hiện hay lâu ngày. Tầm quan trọng của việc điều trị ở chỗ nó giúp ngăn ngừa sự tái xuất hiện trầm cảm.

Bên cạnh đó, sự quan tâm, tác động của người thân, bạn bè đối với bệnh nhân rất quan trọng, đặc biệt là bệnh nhân thiếu niên. Phần lớn nguyên nhân dẫn đến trầm cảm cho trẻ đều xuất phát từ gia đình, nên sự “giải thoát”, thông cảm về mặt tinh thần của cha mẹ, người thân đối với trẻ rất quan trọng.

K.H
(Theo VnCentral News)

Share Button

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

You may use these HTML tags and attributes: <a href="" title=""> <abbr title=""> <acronym title=""> <b> <blockquote cite=""> <cite> <code> <del datetime=""> <em> <i> <q cite=""> <strike> <strong>