Bệnh viêm loét dạ dày có mang tính di truyền?

Trong bệnh lý liên quan đến đường tiêu hóa, bệnh viêm loét dạ dày là kết quả của tình trạng viêm dạ dày mãn tính kéo dài do  không được điều trị triệt để. Nhiêu người vẫn đặt câu hỏi bệnh viêm loét dạ dày có mang tính di truyền ?

Bệnh viêm loét dạ dày có mang tính di truyền?

Các yếu tố làm cho bệnh viêm loét dạ dày trở nên trầm trọng hơn

- Dùng các thức ăn cứng, khô, nhiều chất xơ, nhai không kỹ, nuốt vội. Thức ăn có nhiều vị chua, cay, nóng, lạnh. Lạm dụng rượu, bia và thuốc lá.

- Quá căng thẳng về thần kinh, áp lực công việc, chấn thương về tinh thần, sau một cuộc phẫu thuật, sau một bệnh nội khoa nặng.

- Yếu tố di truyền: Người có nhóm máu O tỷ lệ loét tá tràng cao hơn các nhóm máu khác. Gia đình có người bị bệnh tiêu hóa thì tỷ lệ bệnh cao hơn các gia đình khác.

- Liên quan đến một số bệnh khác như viêm khớp dạng thấp, bệnh phổi mãn tính, xơ gan, cường chức năng tuyến cận giáp, suy thận mãn, sỏi thận.

Lưu ý, nếu đau nhiều và xuất huyết nhiều nên kịp thời chuyển cấp cứu ngoại khoa, có thể là trường hợp bị thủng dạ dày.

Triệu chứng điển hình

Bệnh viêm loét dạ dày có mang tính di truyền?

Đau bụng do bệnh lý ở dạ dày có trường hợp biểu hiện rõ, chẩn đoán tương đối dễ dàng, thường bệnh nhân có những triệu chứng như: Đau vùng bụng trên rốn, đau thường xuất hiện lúc đói hoặc ngay sau ăn nhưng vài trường hợp đau không liên quan gì tới bữa ăn, đau âm ỉ hoặc đau dữ dội. Đau âm ỉ có khi kéo dài từ vài tháng đến vài ba năm, có khi hàng chục năm. Nhiều bệnh nhân đau có tính chất chu kỳ (một chu kỳ khoảng từ một tuần đến vài tuần trở lên) và thường xảy ra vào lúc giao mùa, đặc biệt là mùa rét.

Kèm theo đau là các biểu hiện của rối loạn tiêu hóa, bệnh nhân thường hay có cảm giác nặng bụng, khó tiêu, ợ hơi, ợ chua, buồn nôn, nôn, nóng rát, trướng bụng, trung tiện, phân có khi nát có khi lỏng, có khi rắn như phân dê. Trong những trường hợp loét hành tá tràng lâu ngày gây co kéo làm hẹp môn vị thì ăn không tiêu, bụng ậm ạch khó chịu, nhiều khi phải móc họng nôn ra mới thấy thoải mái. Vì vậy, người bị loét dạ dày – hành tá tràng lâu năm thường gầy, da xanh, niêm mạc nhợt nhạt.

Hiện nay, nội soi dạ dày có giá trị lớn trong chẩn đoán viêm, loét dạ dày – tá tràng. Ngoài việc xác định được vị trí tổn thương, tình trạng tổn thương… thì trong những trường hợp nghi ngờ bệnh ác tính có thể sinh thiết để tìm tế bào lạ. Sinh thiết còn giúp cho việc lấy bệnh phẩm để nhuộm gram, thử test ureaza, nuôi cấy phân lập xác định vi khuẩn HP và làm kháng sinh đồ để xác định tính nhạy cảm với kháng sinh của vi khuẩn này.

Tuy nhiên, đa số trường hợp triệu chứng mơ hồ rất khó chẩn đoán phân biệt với những trường hợp đau bụng có vị trí hoặc tính chất gần giống với đau bụng do bệnh lý ở dạ dày, đặc biệt cần chẩn đoán phân biệt với những trường hợp đau bụng đòi hỏi phải được bác sĩ chữa trị và can thiệp kịp thời nếu không sẽ rất nguy hiểm cho tính mạng như viêm ruột thừa, tắc ruột…

Bệnh viêm loét dạ dày có mang tính di truyền?

Nghiên cứu mới của Đại học Y Hà Nội cho thấy, loét dạ dày tá tràng là bệnh di truyền trội, liên quan tới nhiễm sắc thể thường. Tỷ lệ mắc bệnh ở thế hệ con trong các gia đình có lưu truyền gene bất thường là gần 47%. Đây là những công bố đầu tiên về tính di truyền của loét dạ dày tá tràng ở người Việt Nam.

Kết luận nói trên được nhóm nghiên cứu đưa ra sau khi tiến hành nghiên cứu trên 240 bệnh nhân bị loét đường tiêu hóa, điều trị tại Bệnh viện Bạch Mai trong cả năm 2000. Trong số này, 11 trường hợp có tiền sử bệnh mang tính gia đình. Phân tích phả hệ của 4 bệnh nhân (với 171 cá thể thuộc 29 chi, 42 gia đình), các tác giả nhận thấy:

– Bệnh di truyền suốt qua các thế hệ, theo kiểu trội. Nam hay bị bệnh gấp đôi nữ.

– Nếu bố và mẹ cùng bị loét dạ dày tá tràng, nguy cơ mắc bệnh ở con tăng cao hơn và bệnh cũng khởi phát sớm hơn.

– Bệnh hay xuất hiện nhất ở độ tuổi 16-39 (gần 53%), chỉ 5% khởi phát ở độ tuổi dưới 15.

Nhóm tác giả đi đến kết luận: Cần chú ý khai thác tiền sử của các bệnh nhân loét dạ dày tá tràng để phát hiện các ca bệnh mang tính di truyền. Đối với những người này, cần tiến hành xét nghiệm sàng lọc cho anh chị em ruột, nhằm phát hiện sớm các cá thể mang gene bệnh tiềm tàng nhưng chưa biểu hiện. Điều này giúp bác sĩ áp dụng kịp thời các biện pháp dự phòng và điều trị.

Loét dạ dày tá tràng được xếp vào nhóm các bệnh mang tính gia đình. Trên thế giới đã có một số công trình nghiên cứu về tính di truyền của bệnh. Nhiều ý kiến cho rằng loét dạ dày tá tràng có thể di truyền theo kiểu đa nhân tố, nhưng cũng có nghiên cứu kết luận bệnh di truyền kiểu trội theo nhiễm sắc thể thường.

Trong vấn đề ăn uống, người bị viêm loét dạ dày  nên kiêng ăn hoặc hạn chế tối đa các thức ăn sau:

– Các chất kích thích, các chất táo nhiệt như rượu, cà phê, ca cao, tiêu, ớt, gừng khô, cà ri, các loại thực phẩm nướng (thịt, cá, rau củ…), các món ăn chiên xào nhiều dầu mỡ.

– Các thức ăn quá mát, lạnh, như cua, ốc, hàu, nghêu, sò…, nên ăn ít hoặc khi ăn cần thêm vài lát gừng tươi để điều hòa.

– Các thực phẩm có thể làm tăng tiết dịch vị như chanh, cam, quýt (quá chua), mơ, dưa muối, cà chua, giấm ăn…

– Các thức ăn có độ cứng, dai, khó tiêu, nhiều chất xơ như củ cải già, các loại rau đậu già, các loại rễ cây… Nếu dùng chỉ nên lấy nước bỏ cái, hoặc cắt nhỏ, vụn, xay nhuyễn để nấu chín nhừ.

– Các loại thực phẩm ướp quá lạnh hoặc các thức ăn đang nóng sôi. Nếu muốn dùng phải để trở về nhiệt độ 25-300C là tốt nhất.

Nên ăn từng bữa nhỏ, chia nhiều lần trong ngày, để trong dạ dày luôn có thức ăn, ngừa bụng trống sẽ làm tăng tiết dịch vị gây đau xót.

Tốt nhất nên ăn thật chậm rãi, nhai thật kỹ thức ăn, vì nước bọt sẽ giúp chữa lành vết loét.

Ngoài ra, sẽ rất có ích cho việc chữa trị khi tạo cho mình một chế độ làm việc điều hòa, không căng thẳng thái quá, giảm bớt cường độ công việc, quan tâm đến giờ giấc ăn uống, nghỉ ngơi. Kết hợp với việc tập luyện vận động thể lực vừa sức, hoặc tập dưỡng sinh, hít thở sâu để tăng cường chức năng của hệ tiêu hóa.

Share Button

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

You may use these HTML tags and attributes: <a href="" title=""> <abbr title=""> <acronym title=""> <b> <blockquote cite=""> <cite> <code> <del datetime=""> <em> <i> <q cite=""> <strike> <strong>