Biến chứng của bệnh đau mắt hột

Tại những vùng nông thôn khi mà ý thức vệ sinh của con người còn kém thì lượng bệnh nhân đau mắt hột vẫn khá cao so với các vùng khác  Biến chứng của bệnh đau mắt hột là kết quả tất yếu nếu bệnh nhân không được phát hiện và điều trị kịp thời

Biến chứng của bệnh đau mắt hột

Bệnh đau mắt hột do đâu?

Mắt hột là bệnh viêm kết mạc do vi khuẩn Chlamydia gây ra. Bệnh có những đợt tái phát, viêm kết mạc, viêm biểu mô giác mạc. Biểu hiện bệnh rất đa dạng, từ nhẹ không có triệu chứng gì đến những trường hợp bệnh nặng kéo dài, biến chứng nguy hiểm có thể dẫn đến mù lòa. Những triệu chứng thường gặp là: cộm xốn mắt, vướng mắt như có hạt bụi trong mắt, ngứa mắt, hay mỏi mắt. Tổn thương sẹo hóa của kết mạc dẫn đến cụp mi, lông siêu, lông quặm.

Biểu hiện của bệnh mắt hột

Tùy theo thể bệnh nhẹ hay nặng mà có những biểu hiện: không có triệu chứng gì; có dấu hiệu nặng nề, kéo dài dai dẳng, nhiều biến chứng nguy hiểm có thể dẫn đến mù lòa. Bệnh biểu hiện rất đa dạng với các triệu chứng như sau: ngứa mắt; cảm giác vướng như có hạt bụi trong mắt; đau nhẹ, cộm xốn trong mắt…

Ở thể nhẹ hay gọi là mắt hột đơn thuần, tổn thương chỉ xuất hiện ở lớp biểu mô kết mạc. Bệnh nhân không có triệu chứng gì, hoặc chỉ ngứa mắt, xốn mắt, mỏi mắt, đôi khi hay chảy nước

mắt. Nhiều khi bệnh nhân không biết, không điều trị, bệnh có thể tự khỏi do thói quen sinh hoạt giữ vệ sinh sạch và không bị tái nhiễm, không để lại di chứng và không gây mù.

 Đối với thể nặng tổn thương xâm nhập xuống cả những lớp sâu bên dưới của kết mạc mắt, có thể gây các biến chứng như: sẹo kết mạc, lông xiêu, chính lông xiêu hay còn gọi là lông quặm sẽ gây loạn dưỡng giác mạc và gây sẹo giác mạc làm giảm thị lực, nếu bệnh nặng không được điều trị dẫn đến biến chứng nguy hiểm nhất là mù lòa. Bệnh trầm trọng, nặng nề và kéo dài, không thể tự khỏi nếu không được điều trị tốt.

Biến chứng của bệnh đau mắt hột

Biến chứng của bệnh đau mắt hột

Bệnh nhân bị mắt hột có biến chứng sẽ có nhiều triệu chứng: trụi lông mi, mắt ướt, bờ mi hẹp lại gây cảm giác buồn ngủ, bờ mi đỏ thâm mà dân gian gọi là mắt toét, làm ảnh hưởng thẩm mỹ và chất lượng cuộc sống của bệnh nhân…

Cụ thể, các biến chứng của bệnh: viêm kết mạc mạn tính bị đỏ mắt, ngứa, cộm, xốn quanh năm; lông quặm, lông xiêu là tình trạng tổn thương kết mạc bờ mi gây cho lông mi bị xiêu vẹo, biến dạng, quặp và cọ xát liên tục vào giác mạc, gây tổn thương, trầy sước, loét giác mạc, làm mờ đục giác mạc. Do vệ sinh kém bị nhiễm khuẩn gây viêm mủ nhãn cầu có thể phải khoét bỏ mắt hoặc viêm teo mắt dẫn đến mù lòa. Viêm sụn mi là tổn thương làm bờ mi dày lên, xơ hóa, biến dạng sụn mi. Loét giác mạc làm bệnh nhân bị đau mắt, nhức mắt, sợ ánh sáng, hậu quả là biến dạng giác mạc gây loạn thị, đục giác mạc và dẫn đến mù lòa.

Bội nhiễm là do bệnh mắt hột làm cho giác mạc bị tổn thương dễ bị nhiễm khuẩn, nhiễm virut và cả nhiễm vi nấm, dẫn đến viêm loét giác mạc, có thể gây mù lòa; u hột ở rìa giác mạc lan vào diện đồng tử và có khi lan cả toàn bộ giác mạc; loạn thị vì sạn vôi và các sẹo mắt hột cọ sát lâu ngày trên giác mạc làm giác mạc, lởm chởm, sai lệch đường đi của ánh sáng, gây loạn thị, giảm thị lực; viêm tuyến lệ, tắc ống dẫn lệ dẫn đến mờ mắt, chảy nước mắt sống. Khô mắt, khô giác mạc: do các ống tuyến bị teo, giảm tiết dịch, mắt trắng khô, mờ hẳn, có thể dẫn tới tình trạng loét giác mạc, thủng giác mạc và gây mù mắt.

Điều trị bệnh đau mắt hột 

Điều trị bệnh mắt hột cần tuân theo phác đồ. Theo phác đồ của Tổ chức Y tế Thế giới, khi bệnh ở giai đoạn hoạt tính cần tra thuốc mỡ tetraxyclin 1% (hoặc erythromycin) 8 giờ/lần ít nhất trong 6 tuần phối hợp với rửa mặt bằng nước và xà phòng. Điều trị tại mắt theo phác đồ cách quãng dựa vào gia đình hoặc cộng đồng có thể là cơ sở để phòng chống bệnh mắt hột ở những vùng có bệnh nặng: tra mỡ tetraxyclin 1% 12 giờ/lần trong 5 ngày liền hoặc mỗi ngày một lần trong 10 ngày liền; mỗi năm dùng ít nhất 6 tháng liên tục. Bệnh mắt hột gây miễn dịch rất yếu hoặc hầu như không có miễn dịch. Sau khi được chữa khỏi bệnh vẫn có thể bị tái nhiễm.

Khi bị biến chứng lông siêu, có thể đốt hoặc nhổ lông siêu. Nếu là lông quặm, cần phẫu thuật để làm bật được lông mi ra ngoài.

Việc phòng chống bệnh mắt hột cần được thực hiện tại cộng đồng. Chương trình phòng chống bệnh mắt hột chỉ có kết quả nếu cộng đồng có đủ nước sạch để tắm rửa và vệ sinh cá nhân. Giáo dục y tế và vệ sinh cho mọi người trong cộng đồng có bệnh là rất cần thiết. Chẩn đoán sớm bằng các chương trình khám bệnh hàng loạt sẽ cho phép phát hiện những bệnh nhân, cụm dân cư và cộng đồng và từ đó sẽ tiến hành điều trị kịp thời. Tuy nhiên, những chiến dịch điều trị để thanh toán bệnh mắt hột sẽ không có hiệu quả nếu không cải thiện mức sống và thói quen vệ sinh của cả cộng đồng.

Vì vậy, để phòng ngừa bệnh đau mắt hột chúng ta cần phải

- Giữ vệ sinh mặt và đôi mắt, luôn rửa mặt bằng nước sạch, không dùng chung khăn mặt với người bệnh.

- Vệ sinh nhà cửa sạch sẽ, giữ môi trường nước sạch, tiêu diệt ruồi nhặng.

- Rửa tay thường xuyên: bàn tay chúng ta thường xuyên được đưa lên mặt nơi gần đôi mắt, tạo điều kiện thuận lợi cho vi khuẩn gây hại xâm nhập vào đôi mắt, gây nên các bệnh về mắt.

- Không nên dụi mắt nhiều vì mắt rất dễ bị nhiễm trùng nếu như tay không sạch. Khi vỗ nước vào mặt tránh làm mạnh vì làm như vậy sẽ gây tổn thương đến giác mạc.

- Không tắm ao hồ để tránh nước bẩn bắn vào mắt.

- Đi đường gió, bụi nên đeo kính để bảo vệ mắt.

Bên cạnh đó, nên dùng thuốc nhỏ mắt đúng cách để vệ sinh cho mắt luôn sáng, khỏe hàng ngày. Khi có những triệu chứng khó chịu ở mắt cần đến ngay cơ sở Y tế để được tư vấn, khám và điều trị theo sự hướng dẫn của thầy thuốc. Để tránh những đáng tiếc xảy ra, bệnh nhân không được tự ý dùng thuốc khi chưa có chỉ định của bác sỹ.

Share Button

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

You may use these HTML tags and attributes: <a href="" title=""> <abbr title=""> <acronym title=""> <b> <blockquote cite=""> <cite> <code> <del datetime=""> <em> <i> <q cite=""> <strike> <strong>