Bướu cổ do . . . miệng

TT – Có nhiều loại bướu cổ, trong đó hay gặp nhất là bướu cổ dịch tễ địa phương chiếm hơn 80%. Loại bệnh này do một số yếu tố gây ra như: di truyền, các tác nhân gây nhiễm khuẩn, các rối loạn về miễn dịch… Còn nguyên nhân rất hay gặp là do chế độ dinh dưỡng và nước uống.
Nghe đọc nội dung toàn bài:

Theo các công trình nghiên cứu của một số chuyên gia trên thế giới, có một số loại thức ăn tồn tại các tác nhân gây bệnh bướu cổ như khoai mì, hạt kê, các loại rau họ cải như bắp cải, sữa đậu nành và các chế phẩm từ đậu nành như đậu phụ… Trong khi đó, các loại rong tảo biển do chứa quá nhiều iôt gây nên tình trạng quá tải iôt và cũng làm bệnh nhân bị bướu cổ. Chính vì vậy ở những bệnh nhân bị bệnh bướu cổ, họ thường được khuyên hạn chế sử dụng các loại thực phẩm này.

Tại một số vùng, do người dân sử dụng nước ở các mạch nước ngầm có chứa nhiều chất disulfure để uống cũng có thể gây bệnh bướu cổ. Do chất disulfure ức chế sự hữu cơ hoá trong quá trình tổng hợp hormon tuyến giáp và gây ra tình trạng tăng thể tích tuyến giáp.

Tình trạng suy dinh dưỡng trầm trọng, đặc biệt là thiếu vitamin A cũng gây ra hiện tượng rối loạn sinh tổng hợp hormon tuyến giáp và cũng là một trong những nguyên nhân gây ra bướu cổ. Chính vì vậy trong khẩu phần ăn của những bệnh nhân bị bướu cổ, chúng ta phải chú ý bổ sung đầy đủ lượng vitamin A cần thiết.
Bướu cổ do… miệng

Nguyên nhân quan trọng nhất gây ra bệnh bướu cổ dịch tễ liên quan đến chế độ dinh dưỡng chính là tình trạng thiếu hoặc dư thừa iôt trong khẩu phần ăn hằng ngày. Việc thiếu hụt iôt, ngoài gây ra bệnh bướu cổ còn gây nên tình trạng đần độn ở trẻ em.

Ở các vùng núi cao như Tây nguyên, các vùng núi phía Bắc, do trong khẩu phần ăn hằng ngày lượng iôt rất thấp nên có tỉ lệ bệnh bướu cổ khá cao. Việc sử dụng muối iôt đồng loạt trong dân chúng có tác dụng tốt trong việc phòng bệnh bướu cổ và đần độn ở trẻ em cho phần lớn cư dân ở vùng này.

Tuy nhiên cũng theo các chuyên gia y học, nếu cung cấp quá nhiều iôt trong khẩu phần ăn hằng ngày một thời gian dài cũng đưa đến tình trạng gia tăng bướu cổ trong dân chúng. Chính vì vậy ở các thành phố lớn, các vùng ven biển… nơi mà trong bữa ăn hằng ngày của người dân đã có hàm lượng iôt đủ cho hoạt động sinh tổng hợp hormon của tuyến giáp thì không cần cho thêm iôt vào muối ăn vì lợi bất cập hại. Kinh nghiệm này đã được chứng minh từ các dân chài của Nhật Bản.

Ngoài thức ăn, một số loại tân dược để chữa các bệnh về rối loạn thể chất như muối lithium, các loại thuốc tim mạch như Cordarone… do có chứa nhiều iôt cũng có thể gây ra bệnh bướu cổ hoặc thúc đẩy bệnh bướu cổ tiến triển nhanh hơn.

Làm gì khi người thân bảo “coi chừng bướu cổ”?

Tuyến giáp ở cổ khi bị bướu to hơn bình thường; người ta gọi “bướu cổ”. Chúng tôi đã dùng máy siêu âm đo cho cả ngàn người lớn khoẻ mạnh có chế độ xuất nhập iôt bình thường, sơ bộ xác định được kích thước tuyến giáp trung bình của người Việt Nam là 16,2cm3. Thể tích tuyến giáp tỉ lệ thuận với trọng lượng, chiều cao cơ thể, cứ 1kg trọng lượng sẽ có 0,34cm3 tuyến giáp. Một người có thể tích tuyến giáp từ 20cm3 trở lên sẽ được kết luận là có bướu giáp (bướu cổ).

Bạn được người thân cảnh báo “coi chừng bị bướu cổ” nghĩa là người ta nhìn thấy cổ bạn có vẻ to hơn bình thường. Khi nghi ngờ mình bị bướu giáp, bạn cần đến gặp bác sĩ chuyên khoa nội tiết để được khám, tư vấn: + Xác định tuyến giáp có lớn không? Có bướu không? + Nếu có bướu cần được phân loại: cường giáp (bệnh Basedow), bình giáp (bướu giáp đơn) hay suy giáp (viêm tuyến giáp) + Làm thêm một số xét nghiệm, thăm dò liên quan.

Hiện nay tất cả bệnh viện tuyến tỉnh trên toàn quốc đều có đủ con người và trang thiết bị để thăm dò bệnh lý tuyến giáp.

Cần lưu ý là có nhiều người bị bướu cổ đơn thuần hay bướu giáp địa phương là tình trạng tuyến giáp bị to lên để phải bù trừ cho chế độ ăn bị thiếu chất iốt. Trong các trường hợp bướu giáp đơn này chúng ta chỉ cần bổ sung đầy đủ iôt trong thực phẩm là ổn định về sau.

Đúng là trong su bắp, cải bẹ, su su, rau cần… có chứa chất gây bướu nhưng với nồng độ quá nhỏ, chúng ta phải ăn lượng thật nhiều và ăn thường xuyên mới bị bệnh, với lượng ăn thông thường chưa thấy ai mắc bệnh cả, bạn hãy an tâm dùng các loại rau này trong bữa ăn.

Th.S Trần Bá Thoại (Bệnh viện Đà Nẵng)

Share Button

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

You may use these HTML tags and attributes: <a href="" title=""> <abbr title=""> <acronym title=""> <b> <blockquote cite=""> <cite> <code> <del datetime=""> <em> <i> <q cite=""> <strike> <strong>