Chẩn đoán bệnh lao ở trẻ nhiễm HIV

Trẻ em bị nhiễm HIV thì có nguy cơ nhiễm bệnh lao phổi cao hơn trẻ em thường . Việc chẩn đoán bệnh lao ở trẻ nhiễm HIV cũng thường khó khăn hơn so với người lớn

Chẩn đoán bệnh lao ở trẻ nhiễm HIV

Những loại lao thường gặp

Lao ngoài phổi có thể gặp: lao hạch bạch huyết, lao màng phổi, lao màng não, lao màng bụng, lao ruột, lao xương khớp, lao hệ sinh dục – tiết niệu.

Những người bị bệnh lao ngoài phổi không có nguy cơ truyền bệnh cho người khác.

Lao phổi: Thể lao hay gặp nhất là lao phổi, chiếm tới 80% các trường hợp mắc bệnh lao. Những người mắc bệnh lao phổi xét nghiệm đờm có vi trùng lao là nguồn lây truyền bệnh cho người sống xung quanh. Người mắc bệnh lao phổi nhưng xét nghiệm đờm không tìm thấy vi trùng lao (do số lượng vi trùng trong ổ tổn thương ít) thì khả năng lây bệnh ít hơn rất nhiều.

Do vậy, không phải ai mắc bệnh lao phổi cũng có nguy cơ lớn lây truyền bệnh cho người khác, sự lây truyền bệnh còn phụ thuộc vào số lượng vi trùng lao ở người bệnh.

Triệu chứng của bệnh lao

Triệu chứng toàn thân: Cho dù bệnh lao có thể chỉ khu trú ở một bộ phận nào đó của cơ thể, gây ra những thể lao khác nhau và mỗi thể lao đều có những triệu trứng riêng, điển hình. Tuy nhiên, ngoài những biểu hiện riêng của từng thể lao, độc tố của vi trùng lao có thể gây nên các triệu chứng toàn thân như: sốt (thường là sốt nhẹ về chiều hoặc đêm), kèm theo là mệt mỏi, kém ăn, gầy sút cân, da xanh, thiếu máu…

Triệu chứng tại chỗ: Tuỳ theo vị trí hay cơ quan bị bệnh lao mà biểu hiện các triệu chứng tại chỗ khác nhau, ví dụ:

- Bệnh lao phổi thường có các biểu hiện: Ho khạc kéo dài trên 2 tuần, tức ngực, khó thở, ho ra máu, có đờm…

- Bệnh lao hạch: Người bị lao hạch thường xuất hiện hạch to dính với nhau thành từng khối chắc nổi rõ trên da, trong đó, có tới 95% bị hạch là lao hạch cổ. Khi ấn vào những khối hạch này bệnh nhân không thấy bị đau. Đây là lý do khiến người bệnh chủ quan, không nghĩ đến nguy cơ bị mắc bệnh lao hạch.

- Bệnh lao lao xương khớp: Triệu chứng điển hình là đau tại chỗ bị bệnh, hạn chế vận động, nếu bệnh diễn biến lâu ngày không điều trị có thể gây rò mủ tại chỗ, nếu bị lao cột sống có thể gây gù, vẹo cột sống, liệt vận động…

- Bệnh lao màng não: Có các biểu hiện dấu hiệu thần kinh như: đau đầu, nôn, táo bón, nặng có thể hôn mê, co giật…

Chẩn đoán bệnh lao ở trẻ nhiễm HIV

Chẩn đoán bệnh lao ở trẻ nhiễm HIV

Chẩn đoán lao ở trẻ em khó hơn chẩn đoán lao ở người lớn và thường phải dự đoán. Chẩn đoán phải dựa vào: kết hợp các dấu hiệu và triệu chứng lâm sàng; tiền sử tiếp xúc với người nhà nhiễm lao; Test dưới da; X quang phổi.

Chẩn đoán dựa vào xét nghiệm đờm thường khó vì trẻ em ít khi ho ra đờm nên việc lấy đờm làm xét nghiệm cũng khó khăn hoặc nếu có ho ra đờm thì cũng ít khi tìm thấy trực khuẩn lao. Khi HIV đang tiến triển test dưới da (thử măng tu) thường cho kết quả âm tính. Do đó, kết quả test dưới da âm tính không có nghĩa là trẻ không nhiễm lao. Chụp X quang phổi là xét nghiệm giúp ích nhất cho chẩn đoán.

Trẻ em thường nhiễm lao từ những thành viên trong gia đình như bố, mẹ, ông bà, anh, chị, em. Do đó, khi các cháu đến khám bệnh, bác sĩ phải hỏi xem trong gia đình có ai mắc bệnh lao hay không? Nếu mắc thì đã được điều trị chưa? Điều trị theo phác đồ nào? Dùng thuốc gì? Điều này vô cùng quan trọng vì nếu trẻ bị nhiễm lao từ một người mắc lao kháng thuốc thì chủng kháng thuốc đó có thể truyền cho em bé.

Lao kháng thuốc gồm có: Kháng một thuốc, kháng nhiều thuốc và kháng đa thuốc. Kháng một thuốc là chỉ kháng với một thuốc điều trị lao. Kháng nhiều thuốc là kháng với hơn một thuốc điều trị lao, nhưng không kháng đồng thời với cả INH và RIF. Kháng đa thuốc là kháng ít nhất đồng thời cả INH và RIF – hai thuốc được xem là điều trị lao hiệu quả nhất.

Trẻ em nhiễm HIV có nguy cơ lao ngoài phổi và nhiễm Mycobacteria máu tăng cùng với tiến triển của tình trạng suy giảm miễn dịch. Nhiễm HIV làm cho bệnh Lao tiến triển nhanh hơn; làm tăng nguy cơ bệnh toàn thể (lao kê), bệnh thần kinh trung ương (viêm màng não), nhiều hạch trong lồng ngực, hạch nội tạng (lao ổ bụng).

Ở trẻ em, hệ miễn dịch chưa hoàn thiện nên bệnh lao dễ lan tỏa ra cả cơ thể do đó cần chú ý chẩn đoán lao sớm ở trẻ nhiễm HIV. Phát hiện lao sớm, dùng  thuốc điều trị INH có thể tiêu diệt hoàn toàn vi khuẩn lao.

 Phòng ngừa bệnh lao ở trẻ 

Tất cả mọi trẻ em đều có thể chích ngừa bệnh lao bằng vaccin BCG, trừ trường hợp đang bị bệnh nào đó hoặc vừa tiêm ngừa một bệnh khác thì phải tạm hoãn lại một thời gian.

Việc chích ngừa vaccin BCG không làm cho cháu bé bị sốt hoặc có phản ứng gì khác ngoại trừ hiện tượng sau vài tuần, chỗ chích có một cái vảy nhỏ, ở dưới vảy có một cục cứng, chung quanh vảy có một vùng đỏ. Nếu chích dưới da ở cánh tay, có thể nổi hạch ở nách. Có trường hợp hạch sưng to, có mủ nhưng thường sẽ khỏi nhanh.

Việc chích vaccin BCG phòng lao đã tỏ ra rất hữu hiệu, kể cả đối với các dạng lao nguy hiểm như lao màng não. Tuy vậy, việc chích phòng phải thực hiện cẩn thận và có quá trình theo dõi về sau.

ĐÐúng là sau khi đã chích ngừa, nếu kết quả dương tính không rõ rệt chứng tỏ khả năng miễn nhiễm yếu, cần phải chích lại. Thật ra, khả năng miễn nhiễm này cũng yếu đi theo thời gian. Bởi vậy, thường các cháu phải thử lao mỗi năm một lần để thấy nếu cần thì chích ngừa lại.

Thời gian và những nhận xét, theo dõi của mỗi lần chích ngừa cần phải được ghi đầy đủ vào sổ y bạ của các cháu.

Share Button

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

You may use these HTML tags and attributes: <a href="" title=""> <abbr title=""> <acronym title=""> <b> <blockquote cite=""> <cite> <code> <del datetime=""> <em> <i> <q cite=""> <strike> <strong>