Chẩn đoán và điều trị bệnh viêm khớp háng

Bệnh viêm kháng háng thường khiến bệnh nhân có cảm giác đau đớn ở vùng chân  khiến sinh hoạt đi lại rất khó khăn. Chẩn đoán và điều trị bệnh viêm khớp háng có dễ dàng không?

Chẩn đoán và điều trị bệnh viêm khớp háng

Nguyên nhân gây bệnh viêm khớp háng

1-Do uống nhiều nước không chuyển hóa kịp, làm phình nghẽn động mạch háng, nước ứ trong khớp gối, bị huyết thanh bọc lại thành túi nhỏ, làm tắc tuần hoàn khí huyết, có dấu hiệu đau khi cử động nhưng đầu gối không bị nóng.

2-Do ăn uốnh dư chất đường, làm tăng nồng độ máu, máu ứ tụ ở khớp, gọi là thấp khớp nhiệt, đầu gối đau nóng.

3-Do cơ thể dư chất vôi trong máu làm huyết khô đặc khó tuần hoàn thông qua khe kẽ các khớp, tụ lại ở khớp đầu gối, khi cử động làm mòn khớp, khiến khớp gối bị đau nghe có tiếng kêu ma xát chạm nhau của hai khớp.

4-Do thiếu máu không đi đến các khe kẽ của khớp, gân cơ quanh khớp bị co rút, teo khô đĩa đệm, khi khớp cử động bị đau ở gân khớp gối và đĩa đệm.

Triệu chứng bệnh viêm khớp háng 

Biểu hiện lâm sàng: bệnh khởi đầu đột ngột, trẻ sốt nhẹ (38OC), dáng đi khập khiễng, đau ở vùng đùi hoặc vùng đầu gối, cử động khớp háng khó khăn khi xoay vào trong hoặc dạng chân ra ngoài, nhiễm trùng tai-mũi-họng hoặc đường tiêu hóa sau vài ba ngày trước khi trẻ đau khớp.

Chụp X-quang xương chậu cho thấy đầu xương đùi bình thường, tràn dịch trong khớp, giãn rộng khe khớp, các đường mỡ quanh khớp bị nén lại, dày các phần mềm xung quanh khớp háng. Các hội chứng về sinh học nhiễm khuẩn hầu hết không tìm thấy. Xét nghiệm máu chỉ thấy một số trường hợp tăng nhẹ phản ứng protein C (CRP) và tăng tốc độ lắng máu (VSS).

Đây là bệnh lý lành tính, nguyên nhân chưa được xác định rõ. Một số chuyên gia cho rằng có thể do vi chấn thương lặp lại nhiều lần hoặc do virus. Bệnh thường gặp vào mùa xuân và mùa hè. Trước khi điều trị bệnh viêm khớp háng nhất thời cần phân biệt với một số bệnh lý: viêm xương khớp háng, trật khớp háng, lao khớp háng, thấp tim.

Điều trị bằng thuốc trong 1-2 tuần. Cho trẻ nghỉ ngơi, giảm hoạt động đi lại và chạy nhảy.

Chẩn đoán và điều trị

Việc chẩn đoán thường dựa trên lâm sàng và X-quang, tuy nhiên ở giai đoạn sớm, X-quang thường qui không phát hiện được, mà phải cần tới phim MRI mới cho phép thấy các tổn thương xương sớm.

Chẩn đoán và điều trị bệnh viêm khớp háng

Khi đã có chẩn đoán, việc điều trị sẽ bao gồm thuốc kháng viêm giảm đau nhưng kết quả không khả quan mấy. Có rất nhiều phương pháp mổ xẻ nhằm mục tiêu cứu vãn chỏm xương đùi, động tác đơn giản nhất là khoan giải áp, phức tạp hơn có thể ghép xương xốp sau khi khoan, ghép mào chậu có cuống mạch hay xương mác có cuống mạch, nghĩa là bác sĩ sẽ khoan 1 đường hầm giải áp trong chỏm xương đùi, sau đó sẽ dùng một miếng xương có mạch máu nuôi đi theo đặt vào trong chỗ đường hầm với hy vọng là chỏm xương đùi sẽ có máu nuôi và sống lại. Lý thuyết là như thế nhưng kết quả khá hạn chế. Tuy nhiên, người ta vẫn tiến hành vì mục tiêu cứu lấy chỏm xương đùi.

Khi chỏm xương đùi đã hư hoàn toàn thì biện pháp cuối cùng để giải thoát cho bệnh nhân khỏi cơn đau và sự tàn phế là thay khớp háng. Thay khớp háng giúp bệnh nhân đi lại dễ dàng, không đau. Tuy nhiên, việc gì cũng có mặt trái của nó. Điều đầu tiên là khớp háng nhân tạo không thể tốt hơn chỏm xương đùi thật, bệnh nhân sẽ không được phép ngồi xổm hay bắt chéo chân, nguy cơ có thể bị trật khớp háng mặc dù có nhiều nỗ lực nghiên cứu từ các hãng dụng cụ để giảm thiểu tình trạng này. Thứ đến khớp háng nhân tạo có một tuổi thọ nhất định, sau một thời gian 10-15 năm sau khớp hư thì phải thay lại. Việc thay lại sẽ rất khó khăn và tốn kém do xương bị hư nhiều. Người mang khớp háng nhân tạo cũng giống như mang van tim nhân tạo cũng phải tránh để bị nhiễm trùng ở da, răng, miệng hay những nơi khác, vì khi đó vi khuẩn sẽ bám vào khớp háng nhân tạo gây ra nhiễm trùng và như thế thì rất tồi tệ.

Vì những biến chứng trên mà các bác sĩ cố gắng kéo dài thời gian sử dụng chỏm xương đùi thật càng lâu càng tốt, cho đến khi không còn cách nào khác thì sẽ thay chỏm

Một số tư thế người bệnh thay khớp háng cần chú ý

Tư thế nằm: Không được nằm nghiêng sang bên lành với tư thế khớp háng mổ khép và xoay trong vì dễ gây trật khớp mà nên nằm nghiêng sang bên lành với gối chèn giữa 2 chân để tránh khép và xoay trong. Nếu nằm ngửa cần kê gối chèn giữa để đảm bảo khớp háng ở vị trí trung tính: không quá dạng, không bị khép, không xoay ngoài quá mức. Luôn ngồi dậy từ bên khớp háng mổ, nhích dần chân mổ ra mép giường, sau đó từ từ đặt bàn chân xuống nền nhà rồi di chuyển nốt chân lành. Khung tập đi đặt ngay sát giường để bạn có thể di chuyển khi cần.

Đứng dậy và đi: Để khung tâp đi đối diện với bạn, đưa chân mổ choãi ra phía trước, dùng sức mạnh 2 tay để nâng thân trong tư thế không gập khớp háng quá mức.

Khi đi, không để mũi chân bên mổ xoay ra phía ngoài, không xoay quá mức vào trong hay quá đung đưa ra sau, không bắt chéo chân.

Share Button

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

You may use these HTML tags and attributes: <a href="" title=""> <abbr title=""> <acronym title=""> <b> <blockquote cite=""> <cite> <code> <del datetime=""> <em> <i> <q cite=""> <strike> <strong>