Có hay không thuốc bổ mắt?

Thuốc làm sáng mắt.

Những thuốc làm chậm sự xuất hiện và tiến triển của các bệnh mắt lúc tuổi già có thể xem như là loại thuốc bổ mắt, dưỡng mắt.

Chất chống lão hóa

Ở người già, do tác động của gốc tự do mà thủy tinh thể bị xơ cứng, giảm sút sự đàn hồi (bệnh lão thị). Gốc tự do cũng làm biến đổi protein trong dịch thủy tinh thể làm chúng đục dần đi, thị lực giảm dần, rồi bị mù (bệnh đục nhân mắt); làm biến đổi protein trong dịch mắt, gây thoái hóa hoàng điểm (bệnh thoái hóa điểm vàng). Các chất chống lại gốc tự do sẽ làm chậm xuất hiện, chậm tiến triển các bệnh này.

Vitamin E: tan trong lipid, chống lại gốc tự do ngay trên màng tế bào. Routhiainen (trong tạp chí Dịch tễ học, 1996) đã chứng minh được rằng nồng độ  vitamin E thấp liên quan đến thoái hóa hoàng điểm và nguy cơ này ở nam cao gấp 3 lần nữ. Cũng theo West (trong Arch Ophthamol, 1994) nghiên cứu trên 976 người, thấy nhóm có nồng độ vitamin E cao (12,8mg/lít) có nguy cơ thoái hóa hoàng điểm chỉ bằng 50% so với nhóm có nồng độ vitamin E thấp (8mg/lít).

Vitamin C: tan trong nước, chống lại các gốc tự do ngay trong dịch gian bào, không cho chúng gây hại tế bào. Giúp xúc tiến việc tạo collagen, có ích cho việc tái tạo niêm mạc mắt.

Betacaroten: tan trong lipid, chống lại gốc tự do như vitamin E. Trước hết, betacaroten bảo đảm số lượng tế bào hình đài tiết chất nhày, một thành phần rất quan trọng của “phím” nước mắt. Sau nữa, betacaroten ngăn ngừa thoái hóa, giúp tái tạo các tế bào biểu mô của giác mạc, bảo đảm môi trường trong suốt của nó. Thiếu betacaroten sẽ bị khô nước mắt và giác mạc.

Hiện nay có nhiều sản phẩm vitamin E (400IU), vitamin C (500mg) và betacaroten (15mg) hoặc thay betacaroten bằng vitamin A, có sản phẩm còn cho thêm selenium. Các thành phần trên có hàm lượng cao, đủ chống gốc tự do, nên mỗi ngày chỉ dùng 1 viên, dùng quá liều sẽ gây hại. Người cao tuổi dùng chúng sẽ có tác dụng chống lão hóa chung, trong đó có chống lão hóa mắt. Dĩ nhiên ngay khi còn trẻ, ăn uống bảo đảm đủ các chất này thì cũng sẽ tốt chung cho cơ thể và cho mắt. Một nghiên cứu theo dõi trên 4.170 người có nguy cơ thoái hóa điểm vàng thấy chế độ ăn có đủ vitamin E, C, betacaroten, kẽm giảm được 35% nguy cơ này (theo JAMA 2005, 294: 3101-3107).

Chondroitin sulfat

Chiết từ sụn vi cá mập, là mucoplysaccharid, một thành phần có trong hầu hết mô người, đặc biệt là trong mô liên kết mắt. Hoạt tính sinh học làm tăng và vững bền collagen  nội bào, duy trì tính co giãn của mô liên kết, nên duy trì tính đàn hồi của thủy tinh thể và thể mi, giúp cho sự điều tiết của mắt; ngăn ngừa các protein bị viêm thương tổn, làm chậm sự già hóa, đồng thời làm thay đổi nhanh các tế bào suy yếu nên phòng ngừa sự mờ đục của thủy tinh thể và giác mạc, bảo đảm sự trong suốt cho tổ chức này, cải thiện sức nhìn; làm chóng lành các tổn thương giác mạc, tái tạo lại lớp “phím” nước mắt trước giác mạc, làm cho mắt không bị khô; ức chế sự thoát mạch và làm giảm sự sung huyết.

Ngoài tác dụng đặc hiệu trên mắt, chondroitin còn có tác dụng trên cơ và xương. Những biệt dược phối hợp chondroitin với các chất có lợi cho mắt có các chỉ định chủ yếu trên bệnh mắt (suy nhược mắt, liệt mắt, tràn nước mắt, mù ban đêm, quáng gà, viêm giác mạc, thị lực yếu). Các biệt dược phối hợp  chondroitin với các chất có lợi cho xương khớp, cơ, dẫn truyền thần kinh có chỉ định chủ yếu trên các bệnh xương khớp cơ như chứng đau cơ, chuột rút, đau khớp, viêm xương khớp, viêm đa khớp mạn, đau dây thần kinh do herpes, mệt mỏi tự nhiên, stress… Nên chú ý đến chi tiết nhỏ này khi chọn thuốc.

Trong một số bệnh như đái tháo đường có sự hình thành các mạch máu mới (tân mạch) ở dưới võng mạc mắt, gây ra các tổn thương, dễ thành sẹo, dẫn đến mù mắt. Chondroitin ức chế sự phát triển tân mạch làm cho sẹo khó hình thành phát triển nên dùng dự phòng mù mắt trong bệnh thoái hóa điểm vàng do đái tháo đường. Tuy nhiên, cũng vì nó ức chế việc hình thành tân mạch cho nên không dùng cho người cần phát triển tân mạch như trẻ nhỏ (dưới 6 tuổi), người có thai cho con bú, mới bị bỏng diện rộng.

Trimetazidin: có tác dụng điều hòa lưu lượng điện giải qua màng tế bào (do tác động đến chuyển hóa năng lượng và nồng độ ATP ở các tế bào thiếu máu). Với mắt, nó chống các tổn thương mạch máu ở võng mạc (do tuổi già). Thường dùng dưới dạng thuốc viên uống (20 mg) hay thuốc giọt (mỗi giọt 1mg).

Thuốc còn dùng trong bệnh suy mạch vành để phòng đau thắt ngực (sau nhồi  máu cơ tim) và trong bệnh giảm thính lực (bệnh chóng mặt Menière hoặc do vận mạch). Người già khi đi khám bệnh nếu được thầy thuốc cho thuốc này cần biết rõ mục đích và dùng đúng hướng dẫn (vì với mỗi bệnh liều và cách dùng có khác nhau). Thuốc có thể gây ra hiện tượng quá mẫn, gây khó chịu ở dạ dày, buồn nôn, nhức đầu, chóng mặt.

Ranibizumanb

Là một kháng thể đơn dòng, tái tổ hợp, có tính trung hòa các yếu tố tăng trưởng nội mô mạch máu nên được dùng trong thoái hóa điểm vàng có tân sinh mạch máu. Thuốc mới được đưa ra dùng, cho thấy có hiệu quả tốt, ít tác dụng phụ.

Như đã nói, các thuốc trên chỉ làm chậm xuất hiện, chậm tiến triển, cải thiện bệnh mắt tuổi già, chứ không phải là thuốc chữa khỏi các bệnh này. Cần khám mắt, xác định nguy cơ trước khi dùng thuốc. Trong một số trường hợp bệnh không thể cải thiện được bằng các thuốc thì cần và có thể dùng các cách khác. Chẳng hạn với bệnh lão thị phải đeo kính đúng số, với bệnh đục nhân mắt có thể phẫu thuật thay nhân mắt (hiệu quả cao), hoặc với thoái hóa hoàng điểm có thể  phẫu thuật, laser, thuốc (hiệu quả hạn chế). Ngay khi dùng các thủ thuật chữa bệnh khác, thì thuốc vẫn có ý nghĩa hỗ trợ tích cực.

 

 

Share Button

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

You may use these HTML tags and attributes: <a href="" title=""> <abbr title=""> <acronym title=""> <b> <blockquote cite=""> <cite> <code> <del datetime=""> <em> <i> <q cite=""> <strike> <strong>