Điều trị và chăm sóc trẻ bị thủy đậu

Thủy đậu là bệnh thường gặp ở trẻ em trong những tháng đông – xuân. Không khí lạnh và ẩm mùa này rất thuận lợi cho các bệnh đường hô hấp phát triển, trong đó có thủy đậu. Bệnh do virus gây ra và lây theo đường hô hấp.

Virus thủy đậu có nhiều trong đờm rãi, nước bọt, nước mũi của trẻ bị bệnh, bắn ra ngoài khi trẻ ho, hắt hơi, nói chuyện làm những trẻ khác sống chung quanh hít phải và bị lây bệnh. Virus này cũng có trong các nốt thủy đậu và làm lây bệnh cho những trẻ khác qua tiếp xúc trực tiếp hay gián tiếp (qua đồ chơi, quần áo, giường chiếu…).

Bệnh rất dễ lây, nhất là ở những nơi đông trẻ em và trong thời tiết lạnh. Trẻ mắc bệnh nhiều nhất từ 2 đến 7 tuổi, ít gặp ở trẻ nhỏ dưới 6 tháng. Người lớn cũng có thể mắc nhưng rất hiếm.

Thời kỳ ủ bệnh kéo dài từ 7 đến 18 ngày, sau khi trẻ bị sốt nhẹ 37,5 – 38oC trong vài ngày, có thể kèm theo sổ mũi, kém ăn, quấy khóc… trước khi các nốt thủy đậu xuất hiện. Nốt thủy đậu lúc đầu chỉ là những nốt đỏ như ban sởi, nhưng chỉ mấy giờ sau sẽ nổi lên thành những mụn nước trong, rất nông, trông như những hạt sương đặt trên da, sau từ 24 – 48 giờ thì ngả màu hơi vàng.

Những mụn nước thủy đậu thường có hình một khối bán cầu, đường kính trên dưới 5mm, nổi trên mặt da khoảng 2mm, chung quanh có quầng da tấy đỏ độ 1mm. Các nốt này khô lại vào ngày thứ 5, thứ 6, đóng vảy màu nâu sẫm, và bong vảy vào ngày thứ 8, thứ 9, không để lại sẹo, trừ khi bị gãi loét ra và bị bội nhiễm vi khuẩn.

Nốt thủy đậu có thể mọc khắp nơi, lưng, ngực, bụng, cổ, mặt, cánh tay, đùi, da đầu… trừ gan bàn chân, bàn tay, và mọc nhiều đợt, mỗi đợt cách nhau 2-3 ngày, do đó trên cùng một vùng da ta có thể thấy những nốt mới mọc còn là những mẩn đỏ, những mụn phỏng nước, và cả những mụn đã đóng vảy. Thường phải sau hai hoặc ba tuần lễ (có khi lâu hơn) bệnh mới hết hẳn. Sau khi khỏi bệnh, đứa trẻ có miễn dịch vững bền với bệnh, không bao giờ bị mắc lại bệnh này nữa.

Điều trị và chăm sóc trẻ bị thủy đậu tại nhà

Nói chung, bệnh thủy đậu thường biến diễn nhẹ, trẻ chỉ hơi sốt mỗi khi có đợt mọc mới. Tuy nhiên bệnh cũng có thể gây ra một số biến chứng, thường gặp nhất là biến chứng bội nhiễm vi khuẩn khiến các nốt thủy đậu mưng mủ lâu khỏi, và nếu không được chăm sóc chu đáo, từ những nốt thủy đậu bị bội nhiễm này vi khuẩn có thể lọt vào máu làm trẻ sốt cao kéo dài, bệnh trở nên nặng, việc điều trị sẽ khó khăn, phức tạp hơn.

Ngoài ra, trong những trường hợp nặng, nốt thủy đậu mọc dày, bệnh có thể gây một số biến chứng khác như viêm thận, viêm tai giữa, viêm phế quản – phổi, viêm não, viêm loét giác mạc… nhưng hiếm gặp.

Về điều trị bệnh thủy đậu, trong đa số các trường hợp bệnh thường nhẹ (sốt ít, nốt thủy đậu thưa, sức khỏe toàn thân ít bị ảnh hưởng…) việc điều trị tương đối đơn giản, chỉ cần cách ly trẻ bị bệnh tại nhà cho đến khi khỏi hẳn, cho trẻ uống vitamin C, nhỏ mũi thuốc argyrol 1% ngày 2 lần, cho trẻ mặc quần áo vải mềm và rộng, tránh gãi nhiều làm loét và gây bội nhiễm các nốt thủy đậu. Không cần thiết phải dùng thuốc kháng sinh vì không có tác dụng đối với virut thủy đậu trừ khi bệnh có biến chứng hoặc bội nhiễm vi khuẩn.

Trong việc điều trị và chăm sóc trẻ bị thủy đậu, điều căn bản là bảo đảm vệ sinh da và niêm mạc, tránh để xảy ra các biến chứng.

Chú ý giữ gìn da của trẻ luôn luôn sạch sẽ, quần áo phải thay giặt hằng ngày bằng xà phòng và nước sạch, nếu có điều kiện nên là quần áo trước khi mặc cho trẻ. Giữ bàn tay trẻ sạch, cắt ngắn móng tay, xoa bột tal vô khuẩn hoặc phấn rôm lên da cho trẻ đỡ ngứa. Khi nốt thủy đậu vỡ, nên chấm thuốc xanh mêtylen để sát khuẩn.

Cần đặc biệt chú ý đến những trẻ bị suy dinh dưỡng, còi xương, hoặc đang mắc bệnh ngoài da vì ở những trẻ này bệnh dễ xảy ra nặng và có biến chứng. Nếu thấy trẻ sốt cao, các nốt thủy đậu mọc dày, bị bội nhiễm vi khuẩn lên mủ hoặc có hiện tượng hoại tử da, phải đưa ngay đến bệnh viện để các thầy thuốc giải quyết kịp thời biến chứng.

Theo Sức khỏe & đời sống

Share Button

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

You may use these HTML tags and attributes: <a href="" title=""> <abbr title=""> <acronym title=""> <b> <blockquote cite=""> <cite> <code> <del datetime=""> <em> <i> <q cite=""> <strike> <strong>