HIV và AIDS

Có lẽ không có căn bệnh lây truyền qua đường tình dục nào lại nhận được sự quan tâm của công chúng và gây ra các cảm xúc mạnh mẽ và lầm lẫn như HIV, vi-rút gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch ở người (human immunodeficiency virus), gây nên bệnh AIDS, hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải (acquired immunodeficiency syndrome).

Thật không may, phần lớn phản ứng của xã hội đối với căn bệnh này là coi nó như một sự hồi tưởng về chiến dịch săn lùng và giết chết những người bị tình nghi là phù thuỷ ở thời Trung Cổ – đe dọa, đánh đập, và thậm chí sát hại những người bị nghi là mắc bệnh. Với sự sợ hãi và căm ghét đối với bệnh dịch này như vậy, nên không có gì phải ngạc nhiên khi có nhiều câu chuyện hoang đường, và khuôn mẫu vây quanh HIV, AIDS, và các nạn nhân của nó. Đây chính là cái giá của sự ngu dốt.


Thực ra, HIV không trực tiếp gây nên cái chết mà nó làm suy giảm hệ thống miễn dịch của người bệnh đến điểm mà sự nhiễm trùng và các bệnh khác đánh bại hệ thống bảo vệ của nạn nhân. Vi-rút tấn công các tế bào T “trợ giúp” (có nghĩa là tế bào T4 lymphocytes, một dạng của tế bào bạch cầu), mà tế bào này ra hiệu cho các tế bào B làm tê liệt các mầm bệnh xâm nhập vào cơ thể và rồi các tế bào T “tiêu diệt” sẽ phá huỷ các mầm bệnh này. Trước kia, một người cần phải phát triển một bệnh nghiêm trọng trước khi anh ta/cô ta được điều trị AIDS. Nhưng đến tháng 4 năm 1992, Trung Tâm Kiểm Soát Bệnh Dịch đã mở rộng định nghĩa về việc chuyển sang giai đoạn AIDS, bao gồm cả những người nhiễm HIV có tế bào T từ 200 trở xuống, cho dù anh ta/cô ta có triệu chứng hay không có triệu chứng bị một bệnh nghiêm trọng nào đó. (Bình thường số lượng tế bào T là vào khoảng từ 800 đến 900).

Để HIV có thể tấn công vào tế bào của con người, đầu tiên nó phải tự gắn vào thụ cảm đặc biệt trên bề mặt của tế bào. Ở con người, HIV gắn vào tế bào T4 lymphocytes. Một khi đã gắn được vào tế bào T, HIV thâm nhập vào tế bào và tiết ra một chất thuộc gien. Nhờ một loạt các phản ứng hóa học, bản thân tế bào tự nhân HIV lên. Cuối cùng những tế bào bị vi-rút tấn công trở thành các “nhà máy” sản xuất ra vi-rút, và rồi nó lại tấn công vào các tế bào T khác, các tế bào này lại trở thành nhà máy…. Rồi hệ thống miễn dịch bị suy giảm đến nỗi các bệnh khác nhau dễ dàng khống chế hệ thống miễn dịch của nạn nhân.

Theo các nghiên cứu y học, HIV không lây lan qua các tiếp xúc thông thường giữa người và người mà nó lây lan thông qua sự trao đổi các chất dịch của cơ thể, đặc biệt là máu, tinh dịch, và các dịch tiết âm đạo). Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là sự lây truyền của vi-rút không thể xảy ra theo các cách khác.

Đến nay, bốn cách lây truyền HIV phổ biến nhất được thừa nhận là:

• Lây qua quan hệ tình dục hay các hoạt động khác liên quan đến tình dục với người bị nhiễm HIV, các hoạt động đó bao gồm giao hợp, quan hệ tình dục bằng miệng, hay quan hệ tình dục bằng đường hậu môn, hay các dạng quan hệ tình dục kết hợp của những điều trên.

• Lây qua đường máu.

• Lây qua kim tiêm vào da.

• Lây từ mẹ sang con khi người mẹ nhiễm vi-rút HIV mang thai hay sinh nở, và có khả năng lây nhiễm khi nuôi con bằng sữa.

Cũng theo cuốn sách hướng dẫn có nhan đề Một Chút Kiến Thức Phòng Chống: Hướng Dẫn Làm Giảm Nguy Cơ Mắc Bệnh AIDS Vì Sức Khoẻ Tình Dục, do cục Sức Khỏe Và Xã Hội Washington phát hành thì:

“Các hành vi có nguy cơ cao đặc biệt bao gồm đưa dương vật, ngón tay, hay các dụng cụ vào trong trực tràng, có tiếp xúc giữa miệng và hậu môn, bất kỳ sự tiếp xúc nào với nước tiểu, phân, hay máu bị nhiễm HIV; luôn luôn tránh tất cả những hành vi này. Bao cao su không đảm bảo được sự an toàn, nhưng chúng có thể làm giảm nguy cơ lây nhiễm khi giao hợp, quan hệ tình dục bằng hậu môn, hay bằng miệng. Tinh dịch thường mang vi-rút gây bệnh AIDS nên cần sử dụng bao cao su nếu có bất kỳ sự tiếp xúc tình dục nào có thể gây xuất tinh. Vì vi-rút gây bệnh AIDS có thể xuất hiện ở nước bọt nên việc hôn mở miệng – hôn “kiểu Pháp” cũng có thể là việc làm gây nguy cơ.”

Hiện nay, lây truyền HIV qua quan hệ tình dục giữa những người có thiên hướng tình dục với người khác phái chiếm một phần nhỏ (có lẽ ít hơn 10%) trong số những ca bị nhiễm AIDS ở Mỹ. Tuy nhiên, nếu những nhóm nhiễm bệnh chủ yếu ở Mỹ vẫn là những người đồng tính luyến ái, và những người sử dụng ma tuý bằng cách tiêm tĩnh mạch, thì ở các nước khác trên thế giới lại không phải như vậy. Ở Châu Phi, Châu Mỹ La Tinh, và các nước đang phát triển, HIV lây lan chủ yếu qua các hành vi quan hệ tình dục giữa người có thiên hướng tình dục khác giới. Theo Bộ Y Tế Và Xã Hội Mỹ, danh sách dưới đây là danh sách những người có nguy cơ nhiễm HIV và AIDS cao:

• Những người có quan hệ tình dục với người khác từ năm 1977.

• Những người sử dụng chung bơm kim tiêm khi tiêm chích ma tuý.

• Những người có triệu chứng của bệnh AIDS hay mắc những bệnh có liên quan đến AIDS.

• Nam hay nữ tham gia bán dâm và những người bạn tình của họ.

• Bạn tình của những người nhiễm HIV hay có nguy cơ bị nhiễm cao.

• Những người bị bệnh máu không đông và phải nhận các sản phẩm có yếu tố đông (nhận máu từ người khác).

• Trẻ sơ sinh của những người mẹ bị nhiễm HIV hay có nguy cơ nhiễm HIV cao.

Khi một người đã bị nhiễm HIV, bệnh thường phát triển theo ba giai đoạn. Giai đoạn đầu tiên là “âm thầm”, hay không có triệu chứng bệnh, ở giai đoạn này người bệnh không biết là mình đã nhiễm bệnh và do đó họ có thể vô tình truyền bệnh cho người khác. Kể từ khi có tiếp xúc với người bị bệnh, thời gian để kháng thể có thể được phát hiện bằng cách thử máu là từ vài tuần, vài tháng hay đến vài năm. Những người bị nhiễm bệnh có thể không có biểu hiện triệu chứng gì trong vòng 10 năm hoặc hơn.

Tiếp theo, những người nhiễm bệnh phát triển từ giai đoạn không có triệu chứng gì đến giai đoạn thứ hai của bệnh – triệu chứng HIV (trước đây gọi là phức hợp liên quan đến AIDS (AIDS-related complex), hay ARC). Ở giai đoạn này có một số triệu chứng chung, nổi bật nhất là sự sưng tấy dai dẳng của các tuyến bạch huyết (ví dụ như ở cổ, nách, và trong miệng), sốt, mệt mỏi, ra mồ hôi vào ban đêm, sụt cân mà không giải thích được nguyên nhân, và tiêu chảy.

Theo như các nhà nghiên cứu được biết thì tất cả những người nhiễm HIV đều phát triển thành bệnh AIDS, thường trong khoảng 10 năm. Tất cả những dấu hiệu và triệu chứng của giai đoạn thứ hai vẫn tiếp tục, tuy nhiên nó trở nên rắc rối hơn do sự xuất hiện của các bệnh nghiêm trọng như biếu thịt Kaposi (Kaposi’s sarcoma) (một dạng ung thư) Pneumocystis carinii (một dạng viêm phổi). HIV cũng vượt qua các rào cản máu-não, gây suy giảm trí nhớ và khả năng phán đoán, tạo nên sự thay đổi tính cách và u não.

Ở giai đoạn này, bệnh AIDS không thể chữa được và gây tử vong. Việc điều trị bệnh cần phải bắt đầu từ thời gian dài trước khi cá nhân chuyển sang giai đoạn phát triển AIDS. Việc điều trị này làm giảm thiểu các triệu chứng và làm chậm quá trình phát triển của bệnh. Năm 1987, Cục Quản Lý Thực Phẩm Và Dược Phẩm Mỹ đã phê chuẩn cho phép sử dụng zidovudine (trước đây được gọi là azidothymidine, hay AZT) đây là loại thuốc đầu tiên được cấp phép cho sử dụng để điều trị AIDS ở Mỹ. Có tác dụng như một loại thuốc chống lại vi-rút, zidovudine làm chậm quá trình nhân lên của HIV trong các tế bào của người, kéo dài sự sống của những bệnh nhân HIV, và làm giảm sự xuất hiện cũng như mức độ các viêm nhiễm. Những phương pháp chữa trị khác bao gồm: truyền lymphocytes, cấy ghép tủy xương, cấy các mô từ thymus (nơi mà các tế bào T4 được sản sinh ra), thuốc dideoxyinosine (DDI), chất ức chế protease. Tất cả những liệu pháp này được xây dựng nhằm làm chậm sự phá huỷ chức năng của hệ thống miễn dịch.

Điều trị AIDS không thể bỏ qua những vấn đề về chính trị và tâm lý. Bị chuẩn đoán là nhiễm HIV hay bị AIDS, cũng giống với những bệnh không chữa trị được khác, có thể gây nên sự tàn phá nặng nề về mặt tâm lý. Ngoài ra, sự thật là bệnh AIDS mang theo cùng nó những kỳ thị về mặt xã hội, và một người bắt đầu cảm nhận những chiều hướng đáng sợ khác của căn bệnh này.

Có thể phòng chống bệnh AIDS như thế nào? Khi việc kiêng không quan hệ tình dục không phải là lựa chọn được ưa chuộng thì duy trì một mối quan hệ một vợ một chồng với người bạn đời không bị nhiễm HIV là sự lựa chọn an toàn nhất. Tất nhiên, cần phải tránh những tiếp xúc trực tiếp, không được bảo vệ với miệng, dương vật, âm đạo và/hay trực tràng của bạn tình có nguy cơ bị nhiễm bệnh cao.

Suy nghĩ Cá nhân

Đâu là những điều được ủng hộ và đâu là điều bị phản đối liên quan đến việc bắt buộc phải đi thử xem có nhiễm HIV không? Những xét nghiệm như vậy có nên được tiến hành không? Nếu có thì giành cho những đối tượng nào? Tất cả mọi người? Các nhân viên chăm sóc sức khỏe? Những người làm việc trong nhà hàng? Những người ở cùng nhau trong tù? Tại sao có, tại sao không? Ảnh hưởng của việc bắt buộc phải đi làm xét nghiệm lên những người bị phát hiện là đã nhiễm HIV dương tính là gì?

Hãy kể một số chuyện hoang đường và khuôn mẫu liên quan đến HIV mà bạn biết – ai là người nhiễm HIV, và nhiễm HIV như thế nào? Bạn sẽ nói với người bạn đời của mình như thế nào nếu như anh ấy/cô ấy dương tính với HIV… Bạn nghĩ rẳng câu chuyện hoang dường và những khuôn mẫu đó bắt nguồn từ đâu? Vai trò của các phương tiện thông tin đại chúng trong việc khiến cho những chuyện hoang đường về HIV/AIDS tồn tại mãi là gì? Còn vai trò của gia đình, bạn bè, chính phủ, các tổ chức tôn giáo, những nhóm người quan tâm đặc biệt và các tổ chức khác thì sao? Bạn có thể làm gì để giúp xóa bỏ những câu chuyện hoang đường và những khuôn mẫu đó?
Theo Giaoducgioitinh

Share Button

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

You may use these HTML tags and attributes: <a href="" title=""> <abbr title=""> <acronym title=""> <b> <blockquote cite=""> <cite> <code> <del datetime=""> <em> <i> <q cite=""> <strike> <strong>