Khi các khớp sưng, nóng, đỏ, đau…

Bệnh gắn liền với đau đớn, mất sức, tật nguyền, trầm cảm và mất việc làm. Bệnh viêm khớp dạng thấp có thể gặp ở mọi lứa tuổi và mọi giới. Bệnh xảy ra ở nhiều mức độ khác nhau, diễn biến phức tạp, gây hậu quả nặng nề.

Đeo đẳng người bệnh
Tại VN, bệnh thường xảy ra ở phụ nữ với tỉ lệ nữ nhiều gấp 3 lần nam, đa số khởi phát bệnh từ 30 – 60 tuổi, bệnh thường đeo đẳng người bệnh cho đến cuối đời. Bệnh khởi phát từ từ và thường diễn biến kéo dài, tiến triển từng đợt, có xu hướng tăng dần nhưng đôi khi cũng tiến triển rất nhanh, dẫn đến tổn thương sụn khớp và đầu xương gây dính khớp, biến dạng khớp và mất chức năng vận động của khớp.
Diễn biến của bệnh rất khác nhau với từng người bệnh, thường qua hai giai đoạn. Giai đoạn đầu thường kéo dài 1 – 2 năm với biểu hiện sưng, nóng, đỏ, đau, hạn chế vận động các khớp do hiện tượng viêm màng hoạt dịch của khớp. Ở giai đoạn sau (giai đoạn muộn), bệnh bắt đầu xuất hiện tổn thương bào mòn ở sụn khớp và đầu xương. Các tổn thương này một khi đã xuất hiện thì không thể mất đi. Nếu không được điều trị, các tổn thương sụn khớp và đầu xương ngày càng nặng nề gây biến dạng khớp, dính khớp, cứng khớp và mất khả năng vận động của khớp.
Nguy hiểm từ tác dụng phụ của thuốc
Chú ý cứng khớp buổi sáng
Vị trí bắt đầu thường ở các khớp nhỏ ở hai bàn tay, sau đó ảnh hưởng tới các khớp khác như khớp gối, khớp cổ chân, khớp khuỷu tay, khớp vai, khớp háng… Các triệu chứng thường gặp của bệnh là cứng khớp buổi sáng (gây khó cử động các khớp vào buổi sáng lúc mới ngủ dậy, kéo dài hàng giờ), hiện tượng sưng, đỏ, nóng, đau các khớp nhỏ, đặc biệt ở bàn tay như cổ tay, bàn tay, các ngón tay, ngón chân và khớp gối, đối xứng hai bên và kèm theo các dấu hiệu toàn thân như sốt, mệt mỏi, xanh xao, gầy sút.
Bệnh viêm khớp dạng thấp rất cần được chẩn đoán sớm (trong 1 – 2 năm đầu) khi chưa có các tổn thương làm hư hỏng sụn khớp và đầu xương. Lúc này người bệnh cần được khám lâm sàng, làm các xét nghiệm chuyên biệt, chụp X-quang… để chẩn đoán bệnh. Khi các tổn thương sụn khớp và đầu xương đã nặng nề bệnh thường kèm theo các ảnh hưởng toàn thân: sốt, xanh xao, mệt mỏi, suy nhược, chán ăn, gầy sút, teo cơ… Tuy nhiên, nếu để trễ như vậy thì việc điều trị sẽ rất ít kết quả, khó lòng cứu người bệnh thoát khỏi tàn phế.
Do khó khăn về các thuốc đặc trị nên việc điều trị bệnh viêm khớp dạng thấp ở nước ta (đặc biệt ở các vùng xa) còn chưa đầy đủ. Người bệnh mới chỉ được làm giảm đau, giảm sưng bằng các loại thuốc kháng viêm giảm đau mà chưa làm thay đổi diễn tiến tự nhiên bất lợi, dẫn tới hư hỏng các khớp và gây tàn phế.
Vì dùng thuốc kháng viêm giảm đau kéo dài nên nhiều người bệnh đã bị ảnh hưởng nặng nề của tác dụng phụ thuốc (viêm, loét, thủng, chảy máu dạ dày, loãng xương, tiểu đường, rối loạn nội tiết, suy thận…). Do đó, người bị viêm khớp dạng thấp cũng cần điều trị các biến chứng do thuốc điều trị và sửa chữa các di chứng dính khớp, biến dạng khớp bằng phẫu thuật chỉnh hình.
Điều trị bệnh bằng các loại thuốc chống thấp khớp có thể cải thiện bệnh viêm khớp dạng thấp. Việc lựa chọn thuốc, thời gian điều trị, liều thuốc, phối hợp thuốc, ngưng thuốc, thêm thuốc, đổi thuốc dựa trên mức độ bệnh, giai đoạn bệnh, tình trạng sức khỏe, đáp ứng điều trị và hoàn cảnh kinh tế của từng người bệnh… Ngưng thuốc tùy tiện, dùng thuốc không đều, không đủ liều, không theo dõi sát, bỏ dở điều trị… là những nguyên nhân làm giảm hoặc làm mất hiệu quả điều trị. Việc điều trị toàn diện bệnh viêm khớp dạng thấp cần được áp dụng càng sớm càng tốt vì đây là cách duy nhất để ngăn chặn ngay từ đầu các tổn thương sụn khớp và xương – nguyên nhân gây tàn phế cho người bệnh.
Ngoài ra, người bệnh cũng cần được điều trị hỗ trợ gồm tập luyện, dự phòng, phục hồi chức năng, vật lý trị liệu, thuốc y học dân tộc, châm cứu, xoa bóp…
Theo TS – BS Lê Anh Thư / Người Lao Động
(Khoa Nội cơ xương khớp Bệnh viện Chợ Rẫy

Share Button

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

You may use these HTML tags and attributes: <a href="" title=""> <abbr title=""> <acronym title=""> <b> <blockquote cite=""> <cite> <code> <del datetime=""> <em> <i> <q cite=""> <strike> <strong>