Nhiễm khuẩn đường dẫn mật – Nữ mắc nhiều hơn nam !

Nhiễm khuẩn đường dẫn mật là tình trạng viêm nhiễm xảy ra tại đường dẫn mật trong gan hoặc ngoài gan. Bệnh hay gặp ở độ tuổi từ 20 – 40, nữ mắc bệnh nhiều hơn nam 2,4 lần. Những người có tiền sử giun chui ống mật hoặc sỏi mật dễ mắc bệnh. Mùa hè, nếu bà con đi làm đồng quên chuẩn bị nước uống theo, khi khát tùy tiện uống nước ở ruộng hay ao hồ sông suối… rất dễ bị nhiễm giun sán tạo nguy cơ nhiễm khuẩn đường mật (NKĐM).

Dấu hiệu điển hình của NKĐM

Một người bị NKĐM thường có 3 triệu chứng điển hình là đau, sốt, vàng da, được gọi là tam chứng Charcot. Đau hạ sườn phải chiếm 91% số ca bệnh. Tính chất đau: đau dữ dội, đau lan lên ngực, lên vai phải, có khi vừa đau hạ sườn phải, vừa đau vùng thượng vị. Kèm theo đau là sốt, có tới trên 82% số bệnh nhân (BN) bị bệnh này có sốt. BN bị sốt bất chợt, tức là sốt không theo một quy luật nào, sốt nóng 39 – 40oC, có kèm những cơn rét run vã mồ hôi. Vàng da là triệu chứng chỉ gặp ở khoảng trên 26% số BN. Nhìn thấy da vàng, niêm mạc mắt và miệng vàng, vàng da diễn ra từng đợt, khi vàng da vẫn sốt. Nước tiểu vàng gặp ở trên 98% trường hợp.
Ngoài 3 triệu chứng trên, BN còn có các triệu chứng: mệt mỏi, ăn không tiêu, ngứa da toàn thân. Gan to mấp mé bờ sườn, ấn vào đau. Các triệu chứng trên đây là trường hợp bệnh điển hình. Tuy nhiên trong thực tế, có những BN không thấy đầy đủ các triệu chứng này. Nhưng dù thấy xuất hiện ít hay nhiều các triệu chứng trên, BN phải đến khám và điều trị ở bệnh viện ngay.
Trên lâm sàng thăm khám thấy: ấn vào điểm túi mật đau, hoặc dấu hiệu Murphy dương tính. Bắt thấy mạch chậm chỉ khoảng 60 nhịp/phút. Nếu đã hướng đến bệnh NKĐM, bác sĩ thường cho BN làm tiếp các xét nghiệm để xác định bệnh gồm: xét nghiệm máu thấy bilirubin máu tăng, chủ yếu là tăng bilirubin kết hợp (bình thường bilirubin toàn phần là 3,5 – 17 micromol/l; bilirubin kết hợp dưới 1/3 bilirubin toàn phần). Bạch cầu tăng, tốc độ máu lắng tăng, men phosphataza kiềm tăng.
Sỏi mật có thể gây nhiễm khuẩn đường mật.
Xét nghiệm nước tiểu thấy muối mật, sắc tố mật. Xét nghiệm dịch mật thấy albumin tăng, có tế bào mủ, nuôi cấy dịch mật có vi khuẩn mọc. Soi ổ bụng thấy gan có màu xanh sẫm, có các ổ mủ nhỏ, bờ gan tù; túi mật căng giãn tăng tưới máu hoặc teo nhỏ nhẽo. Siêu âm thấy thành túi mật dày so với bình thường dưới 0,3cm.  Chụp Xquang có thể phát hiện sỏi đường mật…

NKĐM cần phân biệt với một số bệnh: sốt rét cũng có sốt với những cơn rét run, nhưng có chu kỳ ngày một cơn hoặc cách ngày một cơn mà không có vàng da. Bệnh huyết tán thì có triệu chứng thiếu máu, vàng da, lách to, phân vàng, nước tiểu vàng. Bệnh viêm gan siêu vi có các triệu chứng: sốt, đau, vàng da nhưng khi có vàng da thì hết sốt.

Biến chứng của NKĐM

 

Các yếu tố nguy cơ gây bệnh

Nhiều nghiên cứu cho thấy: mầm bệnh gây viêm đường mật là do vi khuẩn, trong đó E.coli chiếm tỉ lệ 70- 80%, trực khuẩn Friedlander, thương hàn, liên cầu, tạp khuẩn… Các yếu tố nguy cơ gây bệnh gồm: các nguyên nhân gây tắc đường mật từ đó dẫn đến ứ mật, viêm nhiễm như sỏi mật, u lành hoặc ác tính của bóng Vater, dị dạng đường mật, nhiễm khuẩn sau giun chui ống mật…

 

 

Bệnh NKĐM có thể dẫn đến các biến chứng nặng mà BN và thầy thuốc cần phát hiện để điều trị kịp thời. Các biến chứng thường gặp gồm:

Túi mật tăng to dọa vỡ với biểu hiện: sốt cao, đau dữ dội vùng hạ sườn phải, sờ túi mật thấy căng to, rất đau. BN cần được mổ cấp cứu dẫn lưu túi mật.

Với biến chứng túi mật hoại tử, BN có tình trạng nhiễm khuẩn, nhiễm độc nặng; điểm túi mật đau; có thể bị trụy tim mạch.

Thấm mật phúc mạc làm cho BN sốt cao, vàng da đậm hơn. Đặc biệt BN có phản ứng co cứng thành bụng; mạch nhanh, huyết áp tụt.

Chảy máu đường mật: ngoài các triệu chứng đau, sốt, vàng da, BN có nôn ra máu với tính chất cục máu có hình dài nâu như ruột bút chì.

Sốc mật: BN sốt cao, vàng da đậm nhưng có triệu chứng sốc như mạch nhanh, huyết áp tụt rất thấp; nước tiểu ít hoặc không có nước tiểu; toàn trạng trở nặng nhanh chóng.

Nhiễm khuẩn máu với các triệu chứng: sốt cao kèm theo nhiều cơn  rét run; mạch nhanh, nhỏ, khó bắt; huyết áp tụt; trướng bụng, vô niệu; cấy máu thấy vi khuẩn mọc.

Áp-xe đường mật: sốt cao dao động, gan to và đau, soi ổ bụng thấy trên mặt gan có nhiều ổ áp-xe nhỏ…

Chú ý trong điều trị và phòng bệnh 

Kể từ khi phát hiện bị NKĐM, BN cần thực hiện một chế độ ăn kiêng béo, nhất là phải kiêng mỡ động vật. Nên uống các loại nước thuốc Nam có tác dụng tốt cho gan, mật như nhân trần, actisô. Sử dụng thuốc kháng sinh diệt vi khuẩn tốt nhất là theo kháng sinh đồ. Trường hợp chưa làm được kháng sinh đồ thì dùng phối hợp 1, 2 hay 3 loại thuốc kháng sinh sau: colistin, cephalosporin, apixilin, gentamyxin.
Nếu nhiễm khuẩn do sỏi mật, mà sỏi nhỏ dưới 2cm ở đường dẫn mật trong gan, hoặc không mổ được thì dùng thuốc tan sỏi: chenodesoxycholic, urodesoxycholic… Điều trị triệu chứng dùng thuốc giãn cơ giảm đau, corticoid. Phẫu thuật điều trị khi có viêm đường mật do sỏi lớn trên 2cm, viêm đường mật có biến chứng…

Phòng bệnh: Cần khám phát hiện các nguyên nhân gây tắc đường mật như sỏi mật, u lành hoặc ác tính của bóng Vater, dị dạng đường mật… để điều trị dứt điểm. Phòng chống bệnh giun đũa để tránh giun chui ống mật gây viêm nhiễm bằng cách không ăn rau sống, quả xanh, không uống nước lã. Không dùng phân tươi bón ruộng…

ThS. Bùi Quỳnh Nga-skđs

 

 

Share Button

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

You may use these HTML tags and attributes: <a href="" title=""> <abbr title=""> <acronym title=""> <b> <blockquote cite=""> <cite> <code> <del datetime=""> <em> <i> <q cite=""> <strike> <strong>