Những điều cần biết về thuốc tiểu chảy

Khi trẻ bị tiêu chảy ngoài việc điều chỉnh dinh dưỡng trong chế độ ăn uống của trẻ, sử dụng thuốc để cầm tiêu chảy là vô cùng cần thiết. Những điều cần biết về thuốc tiêu chảy sau đây là lời khuyên cho các bậc phụ huynh điều cần chú ý  khi sử dụng thuốc

Những điều cần biết về thuốc tiểu chảy

Thuốc uống bù nước và điện giải oresol (ORS)

Thành phần một gói bột (ORS của Unicef) bao gồm: Natri clorid: 3,5g; Kali clorid: 1,5g; Natribicarbonat: 2,5g; Glucose: 20,0g. Dùng 1 gói oresol này hòa tan trong 1 lít nước. Dung dịch oresol được dùng phòng và điều trị mất nước và điện giải mức độ nhẹ và vừa cả người lớn và trẻ em. Không được dùng trong các trường hợp giảm niệu hoặc vô niệu do giảm chức năng thận; Mất nước nặng (phải truyền tĩnh mạch dung dịch Ringer lactate tại cơ sở y tế); Nôn nhiều và kéo dài, tắc ruột, liệt ruột.

Trường hợp mất nước nhẹ, uống 50 ml/kg trong 4 – 6 giờ đầu. Mất nước vừa: uống 100 ml/ kg trong 4 – 6 giờ đầu. Sau đó điều chỉnh theo mức độ khát và đáp ứng với điều trị. Cần tiếp tục cho trẻ bú mẹ hoặc ăn uống bình thường. Có thể cho uống nước trắng giữa các lần uống ORS để tránh tăng natri máu.

Tuy nhiên khi dùng một số người có thể gặp các tác dụng phụ không mong muốn như  nôn nhẹ, tăng natri máu, suy tim do bù nước quá mức.

Các chất hấp phụ, bao phủ niêm mạc ruột

Nằm trong nhóm này gồm các thuốc như atapulgit, smecta… Các thuốc này có khả năng gắn với protein của niêm mạc đường tiêu hóa, tạo thành một lớp mỏng bao phủ, bảo vệ niêm mạc. Không dùng thuốc trong điều trị tiêu chảy cấp ở trẻ em. Atapulgit ngoài tác dụng tạo màng bảo vệ niêm mạc ruột, thuốc còn hấp phụ các độc tố của vi khuẩn, các khí trong ruột, có tác dụng cầm máu tại chỗ.

Thuốc làm giảm tiết dịch, giảm nhu động ruột loperamid

Loperamid làm giảm nhu động ruột, kéo dài thời gian vận chuyển qua ruột, giảm tiết dịch đường tiêu hóa, tăng vận chuyển nước và chất điện giải từ lòng ruột vào máu, tăng trương lực cơ thắt hậu môn. Thuốc được dùng điều trị triệu chứng tiêu chảy cấp không có biến chứng hoặc tiêu chảy mạn ở người lớn. Không dùng thuốc cho người mẫn cảm với thuốc, khi cần tránh ức chế nhu động ruột, viêm đại tràng nặng, tổn thương gan, hội chứng lỵ, trướng bụng. Thuốc cũng có thể gây buồn nôn, táo bón, đau bụng, trướng bụng, chóng mặt, nhức đầu, dị ứng. Đối với trẻ em, không dùng thường qui trong tiêu chảy cấp. Chỉ dùng cho trẻ em trên 6 tuổi khi thật cần thiết. Ngừng thuốc nếu thấy không có kết quả sau 48 giờ.

Men chứa vi khuẩn antibio

Thuốc có tác dụng lập lại thăng bằng vi khuẩn cộng sinh trong ruột, kích thích vi khuẩn huỷ saccharose phát triển, kích thích miễn dịch không đặc hiệu của niêm mạc ruột và diệt khuẩn, được dùng trong các trường hợp tiêu chảy do loạn khuẩn ở ruột.

Điều cần biết về thuốc tiêu chảy Lopermaid

 Một trong những nguyên tắc trong điều trị tiêu chảy nhiễm khuẩn là không được tăng thời gian giữ lại phân lâu trong ruột, làm tăng sinh vi khuẩn trong ruột. Loperamid chống co thắt, làm giảm nhu động ruột, nên  làm tăng thời gian giữ phân lại, làm tăng sinh vi khuẩn trong ruột. Từ đó có thể gây bùng phát lại sự nhiễm khuẩn. Trong trường hợp vi khuẩn tiết ra chất độc, độc tố lưu lại trong ruột còn gây hại. Như vậy, từ một thuốc chống tiêu chảy, loperamid có thể làm tái sự tiêu chảy và gây độc nếu phối hợp không khéo (dùng liều cao làm tăng sự co thắt, giảm nhu động ruột quá mức). Đây là một tác dụng phụ xảy ra do cách dùng thuốc không đúng mà ít được để ý. Trong khi đó, racecadotril chỉ có cơ chế làm giảm tiết dịch mà không chống co thắt, làm giảm nhu động ruột nên không có tác dụng phụ này. Cũng vì thế, phạm vi  liều dùng của racecadotril rộng hơn. Tuy nhiên, trong lâm sàng cũng chỉ dùng với liều đủ hiệu quả chống tiết dịch, chất điện giải mà không nên dùng liều cao hơn.

Loperamid là một opiat tổng hợp, với liều dùng trong điều trị tiêu chảy thì ít độc cho hệ thần kinh trung ương của người lớn. Tuy nhiên, nó có thể gây các triệu chứng thần kinh cho trẻ dưới 6 tuổi. Vì vậy, loperamid không phải là thuốc tiêu chảy cho trẻ em, không đưa vào thường quy điều trị tiêu chảy cấp cho trẻ em dưới 6 tuổi. Trong một số biệt dược, nhà sản xuất cẩn thận hơn còn ghi không dùng cho trẻ dưới 8 tuổi. Racecadotril không phải là một opiat, không đi qua được hàng rào máu não của trẻ nên không có tác hại trên thần kinh của trẻ, có thể dùng cho trẻ từ 3 tháng tuổi trở lên.

Loperamid khi dùng liều cao kéo dài sẽ bị táo bón, đau bụng, buồn nôn, nôn, khô miệng, trướng bụng, tắc, liệt ruột (do làm giảm co thắt, giảm nhu động ruột quá mức). Ngoài ra, thuốc còn gây một số biểu hiện về thần kinh như nhức đầu, chóng mặt, mệt mỏi.  Không  dùng loperamid cho người nhu động ruột bị giảm sút, trướng bụng. Thận trọng khi dùng với người viêm loét dạ dày, có chức năng gan suy giảm. Không dùng loperamid cho người có thai (vì chưa có đủ thông tin); có thể dùng cho người cho con bú (vì thuốc tiết qua sữa rất ít) nhưng chỉ nên dùng liều thấp. Trong vòng 48 giờ dùng loperamid riêng lẻ hay kết hợp với thuốc đặc trị mà không thấy hiệu quả thì phải ngừng dùng. Racecadotril với liều điều trị chưa ghi nhận thấy các tai biến nào nghiêm trọng.

Những điều phân biệt trên cho biết cơ chế tác dụng của mỗi thuốc để dùng vào trường hợp thích hợp chứ  không hàm nghĩa so sánh về độ tốt, xấu của mỗi thuốc.

Cần dùng đúng chỉ định của chúng là cho tiêu chảy không đặc hiệu. Trong tiêu chảy do nhiễm khuẩn, cần phải dùng kháng sinh đặc hiệu, nếu có kết hợp với các thuốc này thì chỉ với vai trò phối hợp mà không thể thay cho thuốc đặc hiệu.

Trong  tiêu chảy dù ở dạng nào khi có sự mất dịch, chất điện giải thì nhất thiết phải bù dịch chất điện giải chứ không thể dùng các thuốc này thay thế. Nếu không bù dịch chất điện giải đúng lúc, đủ lượng sẽ nguy hiểm đến tính mạng.

Và các tai biến có thể xảy ra

Các tác dụng không mong muốn của thuốc thường gặp  chủ yếu ở đường tiêu hoá: khô miệng, táo bón, đau bụng, trướng bụng, buồn nôn và nôn.  Ngoài ra thuốc có thể gây dị ứng, mệt mỏi, chóng mặt, nhức đầu…

Đối với trẻ nhỏ có thể gặp các tác dụng phụ trên hệ thần kinh trung ương (đặc biệt khi sử dụng quá liều): ngủ gật, trầm cảm, hôn mê… nếu nặng có thể gây suy hô hấp và hệ thần kinh trung ương. Vì thế thuốc được khuyến cáo không dùng cho trẻ em dưới 6 tuổi, và không sử dụng thường xuyên điều trị tiêu chảy cấp cho trẻ em.

Tốt nhất khi có bệnh cần phải đi khám để người bệnh được dùng thuốc thích hợp.

Một số lưu ý khi dùng kháng sinh chữa tiêu chảy cấp:

Những điều cần biết về thuốc tiểu chảy

Chọn dùng kháng sinh đặc hiệu:

Khi có trường hợp sốt, mót rặn, có máu mủ trong phân, bác sĩ tiên đoán bệnh có khả năng kéo dài thì nên làm xét nghiệm vi sinh. Dựa vào các chẩn đoán lâm sàng, kết quả xét nghiệm và hỏi kỹ về các thức ăn đồ uống đã dùng, bác sĩ sẽ chỉ định dùng một kháng sinh đặc hiệu nào đó. Hiện nhiều bệnh nhân hỏi người bán thuốc hoặc tự mò mẫm dùng một kháng sinh thông dụng (như chloramphenicol, bactrim, berberin) mà không dùng đúng kháng sinh đặc hiệu, khiến không khỏi, gây lây lan trong cộng đồng.
Một số trường hợp bệnh khỏi nhưng đó là nhờ cơ thể tự đào thải độc tố hoặc vi khuẩn chứ không phải do dùng thuốc.

Không dùng kháng sinh cho mọi trường hợp:

Một sai lầm thường gặp trong điều trị tiêu chảy cấp là cứ dùng kháng sinh bất kể do nguyên nhân gì. Đối với người nhiễm Escherichia Coli sinh độc tố Shiga, việc dùng kháng sinh sẽ làm tăng sự phóng thích độc tố, dẫn đến hội chứng tán huyết – urê huyết cao. Thực ra trong trường hợp này chỉ cần dùng các biện pháp nâng đỡ. Đối với các trường hợp tiêu chảy do virus, kháng sinh không đem lại tác dụng gì mà chỉ làm bệnh nhân mệt mỏi thêm; lúc này điều quan trọng nhất là bù đủ nước, chất điện giải.

Share Button

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

You may use these HTML tags and attributes: <a href="" title=""> <abbr title=""> <acronym title=""> <b> <blockquote cite=""> <cite> <code> <del datetime=""> <em> <i> <q cite=""> <strike> <strong>