Những tác nhân gây nguy cơ sinh con dị tật

Theo thống kê của bệnh viện sản trung ương, tỉ lệ phụ nữ mang thai dị tật ngày càng tăng cao . Những tác nhân gây nguy cơ sinh con dị tật  thường là do lối sống , lạm dụng thuốc bừa bãi và  môi trường tiếp xúc ngày càng ô nhiễm

Những tác nhân gây nguy cơ sinh con dị tật

Những tác nhân gây nguy cơ sinh con dị tật

Rượu: là một trong những chất nhiều độc tính nhưng lại thường được sử dụng, gây hậu quả nghiêm trọng trên thai nhi: nhẹ cân, vòng đầu nhỏ, chậm phát triển, tâm thần, yếu cơ. Lượng rượu mẹ uống càng nhiều, tỷ lệ độc hại trên thai nhi càng tăng.

Thuốc lá: người mẹ hút thuốc có thể sinh trẻ nhẹ cân, giảm kích thước vòng đầu, tăng nguy cơ sẩy thai, thai chết lưu, sinh non… vì chất nicotin ngăn cản việc cung cấp oxy cho bào thai, mà nicotin lại đi qua nhau dễ dàng. Nồng độ nicotin tập trung trong bào thai có thể cao hơn 15% so với lượng nicotin có trong cơ thể mẹ. Ngoài ra nicotin còn có thể tập trung trong nước ối và sữa mẹ. Nếu người khác hút thuốc mà thai phụ hít phải khói thuốc thì hậu quả cũng tương tự như trực tiếp hút thuốc.

Kháng sinh: phần lớn kháng sinh không gây dị dạng thai nhi. Tuy nhiên, có một số kháng sinh có tác động xấu cho thai nhi, như tetracycline sử dụng từ tháng thứ tư của thai kỳ làm vàng răng, thiểu sản men răng. Streptomycin và những loại cùng họ có thể làm tổn thương dây thần kinh tai dẫn đến điếc (xảy ra cho 10 – 15% bào thai có mẹ sử dụng các loại thuốc này).

Các loại loại thuốc nhóm D: Các loại thuốc nhóm D (Category D.Dry) đã được Cục Quản lý và Thực phẩm – Dược phẩm Mỹ (FDA) cấm không dùng cho phụ nữ khi mang thai vì nó có thể gây hiện tượng quái thai.

Các loại hóa chất: Trong nhóm hóa chất, thủy ngân hữu cơ (mythyl mercury) được xem là nguy hiểm nhất đối với quá trình phát triển của bào thai, bởi nó gây ảnh hưởng tới hệ thống thần kinh, chậm phát triển tâm thần. Nặng có thể gây mù mắt, hợp chất này có trong cá, trong nguồn nước và khi người mẹ dùng, các chất độc này sẽ truyền sang cho đứa trẻ. Tiếp đến là nhiễm độc chì, sử dụng liều iốt kali quá lớn (có trong xirô chống ho, thuốc uống để chẩn đoán X-quang). Nhiễm độc PCB (Polychlorinated biphenyls) có trong các sản phẩm giặt, xà phòng, bảo quản thực phẩm… Để hạn chế khuyết tật khi sinh thì nên sống trong môi trường trong lành, không nên ăn cá nhiễm thủy ngân, nguồn nước ô nhiễm cũng như hoa quả nhiễm độc hoặc có chứa hàm lượng hóa chất cao.

Bức xạ ion hóa: Bức xạ ion hóa (Ionizing radiation) là mối nguy hiểm rất lớn đến sức khỏe sinh sản. Theo đó người mẹ chỉ cần tiếp xúc trong thời gian ngắn có thể dẫn đến tình trạng phát triển trí não bất thường, chậm phát triển tâm thần, gây bệnh bạch cầu ở trẻ sơ sinh. Nên thận trọng, kỹ thuật chẩn đoán bằng X-ray có mức độ bức xạ nhỏ, nhưng quét vi tính (CT) thì chỉ một lần quét có mức bức xạ cao gầp 10 lần khám X – quang, vì vậy khi mang thai nên hạn chế các thủ thuật này.

Nghiên cứu mới đây cho thấy những phụ nữ tiếp xúc với ô nhiễm không khí do khói xe trong giai đoạn sớm của thai kỳ tăng nguy cơ sinh con mắc một số dị tật bẩm sinh nguy hiểm.

Nghiên cứu tìm hiểu 806 phụ nữ đã sinh con bị dị tật trong khoảng các năm từ 1997 đến 2006 và 849 phụ nữ sinh con khỏe mạnh ở thung lũng San Joaquin, California, Mỹ. Thung lũng San Joaquin vốn được biết là một trong số những vùng bị ô nhiễm nghiêm trọng nhất do khí thải giao thông ở Mỹ.

Nghiên cứu sinh Amy Padula và các đồng nghiệp ở Trường Y, Đại học Stanford đã tập trung nghiên cứu 2 dạng dị tật ống thần kinh gồm nứt đốt sống và thai vô sọ.

Sau khi tính đến các yếu tố như chủng tộc, trình độ văn hóa của mẹ, sử dụng các vitamin thì các nhà nghiên cứu kết luận rằng những phụ nữ phơi nhiễm nhiều nhất với ô nhiễm không khí do khói xe trong giai đoạn sớm của thai kỳ thì tăng gần gấp 2 lần nguy cơ sinh con bị nứt đốt sống hoặc thai vô sọ so với những phụ nữ ít bị phơi nhiễm với không khí ô nhiễm.

Tuy nghiên cứu phát hiện ra mối liên quan giữa ô nhiễm không khí do giao thông với dị tật tim bẩm sinh nguy hiêm song vẫn chưa chứng minh được đây là mối quan hệ nhận quả.

Phát hiện sớm và ngăn ngừa là điều quan trọng 

Những tác nhân gây nguy cơ sinh con dị tật

 Nên khám sức khỏe tiền hôn nhân. Điều này không được thuận với phong tục văn hóa Việt Nam và có vẻ mang tính “thực dụng” nhưng là điều cần thiết.

Nếu như cả vợ cả chồng đều bị chung một dị tật bẩm sinh thì nguy cơ đứa con bị dị tật bẩm sinh rất cao. Nếu cả bố mẹ vợ/chồng đều có dị tật này thì có thể nó sẽ xuất hiện tiếp theo ở thế hệ con cháu.

 Cần phải tìm hiểu kỹ các nguy cơ con bị dị tật bẩm sinh nếu một trong hai người đang mang dị tật bẩm sinh. Nếu dị tật này xuất hiện ở các thế hệ trước đó và các thành viên khác thì cũng cần được lưu ý. Các bác sĩ sẽ cho lời khuyên đúng đắn trước khi ra quyết định sinh con.

Lưu ý về tiêm phòng một số bệnh gây dị tật bẩm sinh cao như cúm, rubella. Thời gian mang thai sau khi tiêm phòng tối thiểu phải cách 1 tháng và tối đa không được quá 1 năm. Không nên có thai sớm sau tiêm.

 Trong quá trình mang thai, tuyệt đối giữ gìn trong 3 tháng đầu tiên. Không tiếp xúc với chất độc hóa học như thuốc trừ sâu, không tiếp xúc với người ốm và người nhiễm vi rút.

Xét nghiệm chẩn đoán. Tầm soát dị tật khi đang mang thai đã có thể thực hiện được bằng siêu âm, xét nghiệm AND từ máu mẹ hoặc dịch ối. Việc này được chỉ định trong một số trường hợp, theo yêu cầu của bác sĩ chuyên khoa.

 Chụp chiếu trong thời kỳ đầu của thai nhi như: X-quang, chụp CT không tốt cho thai nhi vì đó là các tia phóng xạ có nguy cơ cao gây dị tật, cần tránh các nguồn tia này.

Khi mang thai người mẹ cần bổ sung đầy đủ dinh dưỡng, lưu ý axit folic, sắt, vitamin B12 và vitamin D nhưng cần theo hướng dẫn của bác sĩ. Nếu phải dùng thuốc điều trị cần tuân thủ theo đơn và khám lại theo hướng dẫn của bác sĩ.

Share Button

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

You may use these HTML tags and attributes: <a href="" title=""> <abbr title=""> <acronym title=""> <b> <blockquote cite=""> <cite> <code> <del datetime=""> <em> <i> <q cite=""> <strike> <strong>