Phương pháp điều trị bệnh viêm tủy răng

Khi chúng ta không biết cách bảo vệ và chăm sóc răng đúng cách rất dễ dẫn đến các bệnh lý liên quan đến răng miệng điển hình hay gặp là bệnh viêm tủy răng. Nếu không phát hiện sớm và điều trị bệnh viêm tủy kịp thời sẽ gây nhiều ảnh hưởng xấu đến sinh hoạt và sức khỏe răng miệng

Tủy răng và viêm tủy răng là gì?

Phương pháp điều trị bệnh viêm tủy răng

Tủy răng là một mô mềm nằm ở giữa thân và chân răng, chủ yếu gồm các mạch máu và dây thần kinh. Khi tủy bị viêm, áp lực trong buồng tủy tăng cao gây những cơn đau có thể rất dữ dội cho bệnh nhân. Khi đó việc điều trị tủy là phải lấy bỏ toàn bộ tủy viêm, tạo hình và làm sạch ống tủy rồi hàn kín lại bằng vật liệu tương thích. Tuy nhiên, hình dạng, số lượng, đường đi và sự sắp xếp của các ống tủy rất đa dạng và phong phú như ở các chân răng dạng tròn hay dạng chóp thường có một ống, trong khi các chân răng dạng elip hoặc dẹt thường có nhiều ống tủy khiến cho việc điều trị các bệnh lý tủy răng để bảo tồn răng, bảo tồn sức nhai và phòng tránh các biến chứng của bệnh là rất khó khăn đối với nha sĩ.

Nguyên nhân gây nên viêm tủy răng:

 Thường gặp nhất là do vi khuẩn. Các loại vi khuẩn tồn tại ở trong miệng, xâm nhập vào tủy răng chủ yếu qua các lỗ sâu răng và qua các cuống răng… Ngoài ra viêm tủy răng có thể có nguyên nhân do hóa chất (nhiễm độc chì, thủy ngân…), do yếu tố vật lý (sang chấn, thay đổi áp suất môi trường…) Một số trường hợp không tìm thấy nguyên nhân.

Triệu chứng của viêm tủy răng

Viêm tủy răng có thể là viêm cấp hoặc viêm mạn. Viêm cấp gây ra những cơn đau dữ dội, viêm mạn có thể đau cơn hoặc đau liên tục, cường độ đau ít hơn viêm cấp.

Đau răng thành từng cơn, vừa đau vừa buốt hoặc chỉ đau mà không buốt. Mỗi cơn đau thường kéo dài 3-30 phút, có thể đau mức độ nhẹ tại chỗ hoặc đau dữ dội lan ra xung quanh và lên đầu, đau có thể giật theo mạch nhịp đập. Cơn đau xuất hiện tự nhiên hoặc sau khi có kích thích hoặc thay đổi áp suất (ví dụ đi máy bay), khi hết cơn đau bệnh nhân lại thấy dễ chịu hoàn toàn.

Đau tủy răng là một cấp cứu nha khoa, nhiều trường hợp bệnh nhân đau uống thuốc giảm đau không tác dụng. Khi người bệnh nhai vào răng viêm tủy thì hơi đau, có thể có cảm giác răng lung lay.

Nếu không được điều trị thì đau tủy kéo dài tới khi tủy chết, nhiều người bệnh chủ quan cho rằng răng đã tự khỏi mà không biết rằng nhiễm khuẩn sẽ đi ra vùng quanh chóp chân răng. Răng viêm tủy có thể có lỗ sâu, vỡ rạn răng, mòn răng hoặc viêm nha chu.

Điều trị bệnh viêm tủy răng 

Phương pháp điều trị bệnh viêm tủy răng

Sở dĩ cần phải điều trị ống tủy vì hai lý do chính: nhiễm trùng hay tổn thương không thể hồi phục của tủy răng. Sâu răng không được chữa trị là nguyên nhân phổ biến của nhiễm trùng tủy. Sâu răng phá hủy men và ngà răng cho đến khi thông với hệ thống ống tủy, cho phép vi khuẩn gây nhiễm trùng tủy. Nhiễm trùng bên trong răng không đáp ứng với điều trị kháng sinh. Viêm do nhiễm khuẩn gây tắt nghẽn mạch máu, vì thế kháng sinh trong dòng máu không thể đến vị trí nhiễm trùng dễ dàng. Giảm cung cấp máu cũng giới hạn khả năng tự lành thương của tủy.

Tủy răng cũng có thể bị hư do chấn thương, gãy răng hoặc sang chấn khi trám răng. Đôi khi, tiến trình điều trị nha khoa thông thường có thể làm viêm tủy, ví dụ như sửa soạn răng để bọc mão có thể cần điều trị tủy răng.
Thông thường khi tủy bị viêm nhưng không nhiễm trùng thì sẽ phục hồi trở về bình thường. Nha sỹ có thể cần theo dõi tình trạng trước khi thực hiện việc điều trị tủy răng. Tuy nhiên, một số trường hợp tủy vẫn không hết viêm gây đau nhức và dẫn đến nhiễm trùng.
Một khi tủy đã bị nhiễm khuẩn, có thể gây nhiễm trùng xương xung quanh răng tạo áp xe. Mục đích của điều trị tủy răng là để cứu răng bằng cách lấy đi tủy nhiễm trùng và bị hư hại, xử trí nhiễm trùng và trám bít ống tủy với vật liệu có tính trơ. Nếu không thực hiện việc điều trị tủy, có thể đòi hỏi phải nhổ răng.

Share Button

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

You may use these HTML tags and attributes: <a href="" title=""> <abbr title=""> <acronym title=""> <b> <blockquote cite=""> <cite> <code> <del datetime=""> <em> <i> <q cite=""> <strike> <strong>