Thuốc đặc hiệu điều trị bệnh khớp

Thoái hóa khớp là bệnh thường gặp ở người cao tuổi, gây đau và làm giảm hoặc mất khả năng vận động, dưới đây là một số loại thuốc đặc hiệu dùng trong điều trị bệnh khớp.

thuoc-dac-hieu-dieu-tri-benh-khop

Để chữa trị bệnh khớp ngoài việc luyện tập thì dùng thuốc để chống lại căn bệnh này hết sức quan trọng. Dưới dây là một số thuốc thường được sử dụng trong các bệnh về khớp:

Thuốc chống sốt rét tổng hợp nhóm quinolon

Thuốc có thể có tác dụng ức chế giải phóng men lysozym (tiêu thể) bằng cách làm bền vững màng của lysosom, do đó làm giảm phản ứng viêm trong các bệnh khớp, thuốc chỉ có tác dụng khi dùng kéo dài nhiều tháng nên hay được dùng để điều trị duy trì, củng cố.

Nhóm thuốc này được chỉ định dùng trong các bệnh lupus ban đỏ rải rác, viêm khớp dạng thấp, viêm khớp mạn tính thiếu niên thể đa khớp, các thể khác của bệnh tạo keo như xơ cứng bì, viêm da và cơ… Bao gồm các chế phẩm: amin-4 quinolein.

Tác dụng phụ thường gặp: rối loạn tiêu hóa, rối loạn tiền đình xuất hiện trong 3 tháng đầu; đục giác mạc, tổn thương võng mạc, sạm da, nhược cơ, rối loạn điều tiết mắt xuất hiện muộn hơn (sau 1 năm). Dùng kéo dài trên 2 năm có thể gây tổn thương võng mạc nặng không hồi phục. Cần chú ý khám mắt định kỳ nếu dùng thuốc quá 6 tháng.

D-Penicillamin hay dimethylcystein (trolovol kupren)

Cơ chế tác dụng có thể là do phá hủy phức hợp miễn dịch, yếu tố dạng thấp. Được dùng để chữa viêm khớp dạng thấp thể nặng. Thuốc có thể gây một số tác dụng phụ: rối loạn tiêu hóa, dị ứng da, viêm thận, giảm bạch cầu, tiểu cầu… cần theo dõi chặt chẽ khi dùng thuốc.

Thuốc ức chế miễn dịch

Dựa vào cơ chế bệnh sinh của viêm khớp dạng thấp và các bệnh tạo keo là các bệnh tự miễn dịch, người ta sử dụng các thuốc ức chế miễn dịch để điều trị những trường hợp nặng và không chịu tác dụng của các thuốc khác.

Methotrexat liều nhỏ

Là một thuốc ức chế chuyển hóa do ức chế tổng hợp DNA. Do thuốc có cấu trúc tương tự acid folic nên nó tranh chấp với acid này tại vị trí hoạt động của nó trong quá trình tổng hợp pyrimidin dẫn đến giảm tổng hợp DNA. Ngoài ra, methotrexat có thể có tác dụng kháng viêm và ức chế miễn dịch. Thuốc được chỉ định để điều trị viêm khớp dạng thấp và thấp khớp vẩy nến với liều thấp. Có thể dùng duy trì nhiều năm nếu có hiệu quả hoặc không có tác dụng phụ. Sau 3 tháng, nếu thuốc không có tác dụng thì ngừng. Liều cao được chỉ định điều trị ung thư. Tác dụng phụ: giảm bạch cầu, độc gan thận, tổn thương mô phổi.

Cyclophosphamide (cytoxan, endoxan 50mg): Thuộc nhóm ankylan, có tác dụng liên kết với acid nhân và protein bởi các mối gắn với phân tử lớn trong tế bào, thuốc còn ức chế phản ứng miễn dịch thứ phát. Chỉ định trong bệnh lupus có tổn thương thận. Thường dùng với corticoid.

Cyclosporin A (neoral viên 25mg và 100mg, sandimmun ống 100mg): Thuốc ức chế các pha ban đầu của sự hoạt hóa tế bào T, do đó, ngăn chặn sớm sự ức chế các gen. Chỉ định trong các bệnh tự miễn, các thể viêm khớp dạng thấp, viêm khớp vẩy nến kháng thuốc. Dùng đơn độc hoặc kết hợp với methotrexat.

Azathioprin (imuran 50mg): ức chế tổng hợp purin, chỉ định trong lupus, viêm mạch, viêm khớp dạng thấp.

Các thuốc trên thường dùng với liều trung bình và kéo dài từ 1-3 tháng. Chú ý, nhóm thuốc này có nhiều tác dụng phụ, nhất là các tai biến về máu nên chỉ được dùng theo chỉ định của thầy thuốc chuyên khoa và khi dùng phải theo dõi chặt chẽ.

Share Button

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

You may use these HTML tags and attributes: <a href="" title=""> <abbr title=""> <acronym title=""> <b> <blockquote cite=""> <cite> <code> <del datetime=""> <em> <i> <q cite=""> <strike> <strong>