Triệu chứng và các xử lý suy hô hấp cấp

Suy hô hấp cấp là tình trạng thiếu oxy máu do: các bệnh phổi, tim, chấn thương… gây ra. Suy hô hấp nếu được điều trị đúng có thể khỏi bệnh hoàn toàn. Trái lại, nếu không cấp cứu và điều trị kịp thời, bệnh nhân có thể bị hôn mê và tử vong.

Triệu chứng suy hô hấp cấp 

Nhịp thở và biên độ hô hấp: Thiếu oxy máu và hay là tăng khí cácbonic máu gây nên thở nhanh, tần số thở khoảng 40 lần / phút phối hợp với sự co kéo các cơ hô hấp, thấy rõ ở hỏm trên xương ức và các khoảng gian sườn; ở trẻ em có thể kèm theo cánh mũi phập phồng. Trong những trường hợp có tổn thương do liệt (viêm đa rễ thần kinh, liệt 4 chi do tổn thương tủy sống, bệnh nhược cơ nặng…), tần số thở thường giảm, biên độ hô hấp yếu, bệnh nhân không ho được, do đó gây nên ứ đọng đàm giải trong phế quản.

Theo dõi nhịp thở rất quan trọng vì nhịp thở chậm có thể là sự cải thiện của trao đổi khí oxy máu nhưng cũng có thể là sự suy kiệt cơ hô hấp nhất là trong trường hợp hen phế quản cấp nặng.

dau hieu suy ho hap

Suy hô hấp khiến người bệnh tím tái

Tím tái:  Tím là dấu chứng chủ yếu, xuất hiện ở môi, đầu tay chân, mặt hay toàn thân khi hemoblogine khử > 50g / l. Tỉ lệ này tương ứng với độ bão hoà khí oxy trong máu động mạch là 85 %. Tím càng rõ khi hemoglobine máu càng cao (suy hô hấp mạn); không thấy rõ tím khi thiếu máu nặng. Tím thường phối hợp với tăng khí cácbonic máu, tím đi kèm giãn mạch ở đầu chi, đôi khi có vã mồ hôi.

Dấu hiệu tuần hoàn: Thiếu oxy máu và tăng khí cácbonic máu làm tăng tỉ catécholamine và như vậy làm mạch nhanh, gây nên những cơn tăng huyết áp và tăng cung lượng tim, có thể có loạn nhịp trên thất, giai đoạn sau huyết áp có thể hạ.

Dấu hiệu suy thất phải cấp: Đặc biệt thường gặp trong đợt cấp của suy hô hấp mạn. Dấu chứng chính là: gan lớn, dấu hiệu phản hồi gan tĩnh mạch cổ, nặng hơn là tĩnh mạch cổ nổi tự nhiên (ở tư thế 450), những dấu chứng nầy giảm khi suy hô hấp cấp giảm.

Dấu chứng thần kinh tâm thần: Dấu chứng nầy chỉ gặp trong suy hô hấp cấp nặng; đó là trạng thái kích thích, vật vã, rối loạn tri giác như  lơ mơ hay hôn mê.

Xử lý tại chỗ và đưa tới bệnh viện

Cấp cứu một người bị suy hô hấp cấp phải tuân theo nguyên tắc: làm thông thoáng đường hô hấp, hà hơi thổi ngạt kèm xoa bóp tim ngoài lồng ngực (nếu ngừng tim), cho thở oxy; chống nhiễm khuẩn; cân bằng kiềm toan máu.

suy  ho hap  cap

Tiến hành hô hấp nhân tạo khi bệnh nhân bị suy hô hấp

Tiến hành ngay hô hấp nhân tạo, hà hơi thổi ngạt đối với nạn nhân bị suy hô hấp cấp:

Đặt nạn nhân nằm ưỡn cổ nghiêng sang một bên, dùng gạc hay khăn vải mỏng móc đờm dãi, dị vật khỏi mũi và miệng nạn nhân; đặt một khăn mùi soa hay miếng gạc qua miệng nạn nhân, dùng hai ngón tay cái và trỏ bịt mũi nạn nhân rồi thổi hơi trực tiếp vào miệng nạn nhân. Nếu ngừng tim (sờ mạch quay hay mạch cảnh không có), phải ép tim ngoài lồng ngực: dùng 2 tay chồng lên nhau ép lên lồng ngực ngoài tim, khoảng 70 – 100 lần/phút. Nếu chỉ có một người cấp cứu thì thổi ngạt 2 – 3 hơi lại ép tim ngoài lồng ngực 10 – 15 nhịp.

Khi có hai người cấp cứu thì một người thổi ngạt liên tục, một người ép tim ngoài lồng ngực liên tục, làm kiên trì cho đến khi tim đập lại và thở trở lại. Sơ cứu có kết quả, nạn nhân thở lại, cử động giãy giụa hoặc nạn nhân vẫn còn mê nhưng đã có mạch và nhịp thở thì gọi xe cấp cứu hay dùng mọi phương tiện sẵn có chuyển nạn nhân đến cơ sở y tế có trang bị hồi sức cấp cứu.

sau hieu suy ho hấp

Cho bệnh nhân thở ô xy khi tới bệnh viện

Điều trị ở bệnh viện:

Dùng máy hút đờm dãi, chất xuất tiết sạch ở miệng, mũi, họng bệnh nhân. Rửa phế quản, làm loãng đờm bằng khí dung, bằng bơm dung dịch bicarbonat natri 14‰ hay dung dịch chlorua natri 0,9%, 2 – 5ml mỗi lần rồi hút ra. Bồi phụ nước và điện giải và cân bằng kiềm toan.

Thở oxy: khí oxy phải được làm ẩm và làm ấm trước khi sử dụng cho bệnh nhân.

Cho thở khi được tăng cường oxy: dùng cho các bệnh nhân có nồng độ khí carbonic máu bình thường hay giảm: mọi trường hợp thiếu oxy máu thì PaO2 đều giảm dưới 65mmHg, cho thở oxy với cung lượng 4 – 6lít/phút bằng xông mũi hay trong những trường hợp thiếu oxy nặng hơn thì sử dụng mặt nạ oxy.

Đối với bệnh nhân có nồng độ khí carbonic trong máu cao mạn tính do suy hô hấp mạn, cho thở khoảng 1 – 3lít/phút, thở ngắt quãng và được kiểm soát nồng độ các khí trong máu.

Đặt nội khí quản trong các trường hợp: có trở ngại đường hô hấp trên như phù nề, vết thương thanh quản, hôn mê gây tụt lưỡi; hỗ trợ hô hấp, cần thở oxy, thở máy; có tăng khí carbonic máu…

Mở khí quản: dùng cho các trường hợp cần đặt nội khí quản trên 3 ngày hay không đặt được ống nội khí quản… Chống nhiễm khuẩn phải dùng kháng sinh có hoạt phổ rộng hoặc theo kháng sinh đồ.

Share Button

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

You may use these HTML tags and attributes: <a href="" title=""> <abbr title=""> <acronym title=""> <b> <blockquote cite=""> <cite> <code> <del datetime=""> <em> <i> <q cite=""> <strike> <strong>