Ung thư nội mạc tử cung (kỳ I)

Tử cung là một bộ phận trong cơ quan sinh sản của nữ giới, và đảm đương nhiệm vụ chính về sinh sản.

rung-thu-tu-cung-kyI

Tử cung có 3 phần: cổ tử cung hình trụ hẹp nằm ở phía dưới tiếp giáp với âm đạo, thân tử cung hình nón nằm ở giữa và đáy tử cung có hình vòm nằm ở phía trên. Hai bên đáy tử cung có 2 vòi trứng là con đường thông thương giữa 2 buồng trứng với tử cung. Thành tử cung có 2 lớp: phía trong là lớp màng mỏng goi là lớp nội mạc tử cung, lớp ngoài rất dầy gọi là lớp cơ tử cung.Tử cung (hay còn gọi là dạ con) là một bộ phận của hệ thống sinh dục nữ. Đó là một cơ quan rỗng hình quả lê, có chức năng nuôi dưỡng và bảo vệ thai nhi. Trong chậu hông, tử cung nằm ở giữa bàng quang và trực tràng. Tử cung có 3 phần: cổ tử cung hình trụ hẹp nằm ở phía dưới tiếp giáp với âm đạo, thân tử cung hình nón nằm ở giữa và đáy tử cung có hình vòm nằm ở phía trên. Hai bên đáy tử cung có 2 vòi trứng là con đường thông thương giữa 2 buồng trứng với tử cung. Thành tử cung có 2 lớp: phía trong là lớp màng mỏng goi là lớp nội mạc tử cung, lớp ngoài rất dầy gọi là lớp cơ tử cung.

Đối với những phụ nữ ở độ tuổi sinh đẻ, hằng tháng, lớp nội mạc tử cung dầy lên để chuẩn bị đón nhận trứng được thụ thai về làm tổ ở đó. Nếu người phụ nữ không có thai, lớp nội mạc tử cung sẽ bong ra tạo nên hiện tượng kinh nguyệt.

Các yếu tố nguy cơ gây ung thư nội mạc tử cung

Hiện tại khoa học vẫn chưa biết chính xác nguyên nhân của ung thư nội mạc tử cung, nhưng có một điều chắc chắn là đây không phải là bệnh lây truyền từ người này sang người khác. Các nhà khoa học cũng đã phát hiện ra một số yếu tố nguy cơ của ung thư nội mạc tử cung, đó là những yếu tố mà nếu có, người phụ nữ sẽ có nhiều khả năng (nhưng không phải chắc chắn) mắc phải căn bệnh này. Các yếu tố nguy cơ của ung thư nội mạc tử cung gồm:

Tuổi: Ung thư nội mạc tử cung xuất hiện hầu hết ở những người trên 50 tuổi

Quá sản nội mạc tử cung: Sẽ làm tăng nguy cơ mắc ung thư nôị mạc tử cung

Điều trị nội tiết tố thay thế: Đây là phương pháp điều trị để chống loãng xương, điều chỉnh các rối loạn do mãn kinh, phòng một số bệnh tim mạch. Các bệnh nhân được điều trị bằng phương pháp này với liều cao trong một thời gian dài sẽ tăng nguy cơ mắc ung thư nội mạc tử cung.

Béo phì: Sự tổng hợp estrogen của cơ thể diễn ra một phần tại tổ chức mỡ. Người béo phì sẽ có hàm lượng estrogen cao trong cơ thể, và đó là nguyên nhân làm tăng nguy cơ mắc ung thư nội mạc tử cung. Nguy cơ cũng tăng ở những người mắc bệnh cao huyết áp hay đái tháo đường.

Tamoxifen: Những phụ nữ dùng tamoxifen để phòng ngừa hay điều trị ung thư vú sẽ tăng nguy cơ mắc ung thư nội mạc tử cung. Điều này là do những tác động tương tự estrogen của thuốc trên tử cung. Trên thực tế lợi ích do thuốc đem lại lớn hơn nhiều nguy cơ nên tamoxifen vẫn được chỉ định rộng rãi trong điều trị ung thư vú, tuy nhiên bệnh nhân nên trao đổi kỹ với bác sỹ trước khi sử dụng và phải được theo dõi cẩn thận.

chủng tộc: Phụ nữ da trắng có xu hướng mắc nhiều hơn phụ nữ da đen.

Ung thư đại-trực tràng: Những phụ nữ bị một dạng ung thư đại-trực tràng bẩm sinh có nguy cơ cao bị ung thư nội mạc tử cung.

Một số yếu tố khác là không sinh đẻ, dậy thì sớm, mãn kinh muộn cũng sẽ làm tăng nguy cơ mắc ung thư nội mạc tử cung.

Những phụ nữ có nguy cơ cao nên gặp bác sỹ để biết cách nhận ra các triệu chứng sớm của bệnh cũng như thời gian theo dõi định kỳ.

ung-thu-tu-cung-kyI1

Triệu chứng

ung thư nội mạc tử cung thường xuất hiện sau tuổi mãn kinh với triệu chứng phổ biến nhất là ra máu âm đạo bất thường. Chảy máu lúc đầu dưới dạng loãng có những vệt máu sau đó số lượng máu sẽ tăng dần. Không nên chủ quan coi đây là 1 phần của kinh nguyệt mà nên đi khám ngay. Người phụ nữ nên đi khám nếu thấy xuất hiện 1 trong số các triệu chứng sau:

Chảy dịch, chảy máu âm đạo bất thường

Đi tiểu khó hoặc đau

Đau khi giao hợp

Đau vùng chậu hông

Những triệu chứng này cũng có thể do một số bệnh khác ít nguy hiểm hơn gây ra, nhưng nên đi khám vì chỉ có bác sỹ mới có kết luận chính xác.

 Chẩn đoán

Nếu 1 phụ nữ có những biểu hiện gợi ý đến ung thư nội mạc tử cung, bác sỹ sẽ khám xét cẩn thận và có thể yêu cầu làm xét nghiệm kiểm tra máu và nước tiểu. Dưới đây là các biện pháp khám và xét nghiệm cần thiết để chẩn đoán:

Khám tiểu khung để kiểm tra âm đạo, tử cung bàng quang và trực tràng. Bác sỹ sẽ sờ nắn để phát hiện khối u hoặc thay đổi về hình dạng, kích thước nếu có. Để có thể quan sát phần trên của âm đạo và cổ tử cung, bác sỹ sẽ đưa một dụng cụ gọi là mỏ vịt vào trong âm đạo.

Siêu âm qua đường âm đạo: Bác sỹ đưa một dụng cụ vào trong âm đạo, dụng cụ này phát ra sóng siêu âm hướng về phía tử cung, sau khi đi qua các cơ quan, sóng siêu âm dội trở lại và tạo hình ảnh được ghi lại trên máy. Nếu phát hiện lớp nội mạc tử cung dầy, bác sỹ có thể sẽ bấm sinh thiết

Sinh thiết: là thủ thuật lấy ra một mẫu tổ chức nội mạc tử cung để làm xét nghiệm giải phẫu bệnh lý để tìm tế bào ung thư, quá sản hay các bệnh khác. Trong một số trường hợp, bác sỹ phải tiến hành nạo buồng tử cung. Việc nạo buồng tử cung phải thực hiện dưới gây mê và sẽ gây chảy máu đôi chút.

 Xếp giai đoạn

Sau khi đã chẩn đoán ung thư nội mạc tử cung, bác sỹ cần phải đánh giá xem giai đoạn bệnh để có thể lập kế hoạch điều trị. Đây là quá trình xem xét cẩn thận xem bệnh có lan tràn đến cơ quan khác hay không, và nếu có thì là cơ quan nào. Bác sỹ có thể yêu cầu làm các xét nghiệm máu, nước tiểu, chụp phim X quang, soi trực tràng…

Bệnh được chia làm 4 giai đoạn tuỳ thuộc vào mức độ lan tràn của tế bào ung thư.

Share Button

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

You may use these HTML tags and attributes: <a href="" title=""> <abbr title=""> <acronym title=""> <b> <blockquote cite=""> <cite> <code> <del datetime=""> <em> <i> <q cite=""> <strike> <strong>