Ung thư tuyến giáp trạng

Tuyến giáp trạng có hình dạng của một con bướm nằm trước cổ, bên dưới thanh quản, gồm hai phần (2 lobes hoặc 2 thùy). Hai phần này được ngăn ra bởi isthmus, nằm giữa. Một tuyến giáp trạng bình thường có kích thước khoảng 3-4 cm, nằm dưới da nên khó có thể sờ nắn.

ung-thu-tuyen-giap-trang

Tuyến giáp trạng gồm hai loại tế bào, cả hai đều tiết nội tiết tố.
• Tế bào follicular (thyroid follicular cell) tiết ra nội tiết tố giáp trạng, nội tiết tố này ảnh hưởng đến nhịp tim, huyết áp,thân nhiệt và trọng lượng.
• Tế bào C tiết ra calcitonin, nội tiết tố này điều tiết lượng calcium trong máu.
Bốn tuyến cận giáp (parathyroid) nằm sau tuyến giáp trạng. Các tuyến này tiết ra nội tiết tố parathyroid có nhiệm vụ giúp cơ thể duy trì một lượng calcium cân bằng.

Căn bản về ung thư

Ung thư xuất phát từ tế bào, đơn vị căn bản của mô. Bình thường tế bào da tăng trưởng, sinh sản và tạo tế bào mới. Mỗi ngày tế bào da già lão, chết và tế bào mới thay thế.
Đôi khi tiến trình sinh hóa trật tự này trở nên bất thường. Tế bào mới xuất hiện khi không cần thiết, và tế bào già lão hoặc tế bào hư hoại không chết như đã định. Các tế bào dư thừa này tạo thành khối, gọi là khối u hay bướu.
Bướu hay khối u có thể “lành” (benign) hoặc “độc” (cancerous):
Bướu lành:
• Ít khi gây tử vong
• Không ăn lậm (invasive) đến các mô lân cận
• Không lan xa đến những bộ phận khác trong cơ thể
Bướu độc như ung thư:
• Có thể gây tử vong
• Có thể tái phát sau khi đã được cắt bỏ, chữa trị
• Có thể ăn lậm đến các mô lân cận
• Lan ra các bộ phận khác; việc lan tràn của khối u gọi là metastasis.

Các loại ung thư tại tuyến giáp trạng

1. Papillary: chiếm 80-90% những loại ung thư giáp trạng, khởi thủy từ loại tế bào follicular. Loại ung thư này tăng trưởng chậm, nếu tìm thấy sớm, việc trị liệu có kết quả rất khả quan.
2. Follicular: Khoảng 15% các loại ung thư giáp trạng, loại ung thư này xuất phát từ tế bào follicular, tăng trưởng chậm; nếu tìm thấy sớm, việc trị liệu có kết quả rất khả quan.
3. Medullary: Khoảng 3% các loại ung thư giáp trạng, loại ung thư này khởi thủy từ tế bào C. Loại ung thư này tạo ra một lượng calcitonin rất cao; nếu tìm thấy sớm và trị liệu sớm trước khi ung thư lan ra những nơi khác, kết quả rất khả quan.
4. Anaplastic: Loại ung thư giáp trạng hiếm có (khoảng 1-2%), khởi thủy từ tế bào follicular. Loại ung thư này rất khó tìm và khó chữa vì tế bào ung thư tăng trưởng nhanh chóng.
Dù chưa biết rõ nguyên nhân gây ung thư tuyến giáp trạng, nhưng y học đã tìm ra một số yếu tố liên quan đến loại ung thư này, gia tăng tỷ lệ bị ung thư, gọi là “risk factors”. Tuy nhiên, vẫn có nhiều bệnh nhân bị ung thư mà không có yếu tố rủi ro nào cũng như người có nhiều yếu tố rủi ro nhưng vẫn không bị ung thư.

Các cuộc nghiên cứu cho thấy các yếu tố sau đây gia tăng tỷ lệ ung thư tuyến giáp trạng:

• Quang tuyến: Những cuộc chữa trị quang tuyến quanh vùng cổ sẽ gia tăng tỷ lệ ung thư tuyến giáp trạng, loại papillary hoặc follicular. Nguồn quang tuyến thông thường nhất đến từ việc trị liệu. Từ những năm 1920 -1950, bác sĩ thường sử dụng quang tuyến để chữa trị chứng sưng hạch hạnh nhân (tonsils, amidal) ở trẻ em, mụn ở mặt (acne) cũng như những chứng bệnh khác tại đầu & cổ. Những bệnh nhân này về sau, đa số đều bị ung thư tuyến giáp trạng.
Những loại quang tuyến dùng để chẩn bệnh như X-ray chụp hình phổi hoặc răng thường có lượng quang tuyến rất thấp so với loại quang tuyến dùng vào việc trị liệu. Tuy nhiên, khi dùng thường xuyên lượng quang tuyến có thể lên cao, nên thảo luận với bác sĩ, nha sĩ về việc dùng hình quang tuyến để chẩn bệnh và chỉ dùng khi cần thiết.
Một nguồn quang tuyến khác đến từ việc thử bom nguyên tử, những nhà máy chứa chất phóng xạ gặp tai nạn. Chẳng hạn như nguồn quang tuyến đến từ hậu quả phóng xạ nguyên tử (radioactive fallout) khi thử bom nguyên tử (tại Hoa Kỳ cũng như những nơi khác trên thế giới vào những năm 1950 – 1960), từ những trung tâm nguyên tử lực (nuclear power plants) gặp tai nạn (Chernobyl năm 1986) và chất phóng xạ thải ra từ những nhà máy sản xuất võ khí nguyên tử như Hansford tại tiểu bang Washington năm 1940. Những chất phóng xạ này thường là I-131 (I*). Trẻ em nhiễm phóng xạ idodine, tỷ lệ ung thư tuyến giáp trạng gia tăng rất cao khi trưởng thành.
• Thân quyến bị ung thư tuyến giáp trạng, loại medullary: Sự thay đổi, hay biến thái của di thể (gene) RET truyền từ cha mẹ đến con cái. Thử máu có thể tìm ra di thể RET đã biến thái. Khi tìm ra sự bất thường của di thể RET trong những bệnh nhân với ung thư tuyến giáp trạng, loại medullary, bác sĩ có thể đề nghị việc thử máu cho thân nhân của người bệnh hoặc có thể đề nghị việc cắt bỏ tuyến giáp trạng trước khi phát ung thư. Khi loại ung thư này tìm thấy ở nhiều người trong một gia đình, sách vở y học gọi là “familial medullary giáp trạng cancer” hoặc “multiple endocrine neoplasia (MEN) syndrome”. Bệnh nhân với chứng MEN có thể bị một vài loại ung thư khác.
• Thân quyến bị bướu cổ (goiter) hoặc polyp tại ruột già: Tỷ lệ ung thư tuyến giáp trạng loại papillary gia tăng trong những người có thân quyến bị bướu cổ hoặc bị chứng polyps ở ruột già & trực tràng.
• Bị bướu cổ hay nổi khối u tại tuyến giáp trạng gia tăng tỷ lệ ung thư tuyến giáp trạng.
• Phái tính: Tại Hoa Kỳ, tỷ lệ ung thư tuyến giáp trạng ở phụ nữ cao gấp 2-3 lần phái nam
• Tuổi tác: Bệnh nhân với chứng ung thư tuyến giáp trạng thường ở tuổi 40 trở lên. Bệnh nhân với loại anaplastic thường ở tuổi 60 trở lên.
• Iodine & cách dinh dưỡng: Tuyến giáp trạng cần iodine để tạo nội tiết tố giáp trạng. Iodine có trong hải sản như tôm cua và muối iodized. Thiếu iodine trong thức ăn có thể gia tăng tỷ lệ ung thư tuyến giáp trạng, loại follicular; quá nhiều iodine có thể gia tỷ lệ ung thư tuyến giáp trạng loại papillary.

Triệu chứng

Ung thư tuyến giáp trạng thường không gây triệu chứng cho đến khi vào thời kỳ trầm trọng:
• Khối u trước cổ gần quả táo Adam (nếu là phái nam)
• Khản tiếng hoặc phát âm khó khăn
• Sưng tấy hạch bạch huyết, nhất là những hạch ở quanh cổ.
• Khó nuốt, khó thở
• Rát cổ họng
Ngoài ung thư tuyến giáp trạng, những triệu chứng kể trên có thể xuất hiện khi bị nhiễm trùng, bị bướu cổ hoặc những chứng bệnh khác. Nên đi khám bệnh để tìm nguyên nhân.

Chẩn bệnh

Khi có một hoặc nhiều triệu chứng kể trên, nên đi khám bệnh. Bác sĩ ghi nhận bệnh sử và thực hiện một hoặc nhiều loại thử nghiệm sau:
• Khám tổng quát: Bác sĩ sờ nắn vùng cổ, tuyến giáp trạng, hạch bạch huyết và soi thanh quản để tìm dấu hiệu của sự sưng trướng.
• Thử máu để thẩm định lượng thyroid-stimulating hormone (TSH), quá nhiều hay quá ít nội tiết tố này có nghĩa là tuyến giáp trạng không hoạt động bình thường. Khi bác sĩ truy tìm loại ung thư medullary, sẽ đo lượng calcium trong máu hoặc lượng calcitonin trong máu.
• Siêu âm: Dụng cụ này dùng sóng âm thanh để chụp hình thể của tuyến giáp trạng và tìm kiếm những khối u; nếu có, đo kích thước của những khối u và thẩm định xem những khối u này có chứa chất lỏng hay không. Khối u chứa chất lỏng thường là bướu lành, khối u đặc là bướu độc.
• Radionuclide scanning: Bệnh nhân uống dung dịch chứa chất phóng xạ, chất phóng xạ theo máu luân lưu khắp cơ thể. Những khối u “thấm” chất phóng xạ xuất hiện rõ trên màn hình. Khối u có ít chất phóng xạ hơn những tế bào chung quanh được gọi là khối u lạnh (cold nodule), những khối u lạnh có thể là bướu độc hay ung thư. Những khối u nóng (hot nodules) “thấm” nhiều chất phóng xạ hơn những tế bào chung quanh thường là những bướu lành.
• Sinh thiết: Làm sinh thiết là cách chẩn bệnh ung thư chính xác nhất. Bác sĩ làm sinh thiết bằng cách dùng kim hoặc dao mổ:
– Fine-needle aspiration: Bác sĩ dùng một kim nhỏ và hút tế bào từ tuyến giáp trạng để thử nghiệm. Đôi khi, siêu âm được sử dụng để định chỗ của khối u, giúp việc lấy tế bào dễ dàng hơn.
– Giải phẫu: Bác sĩ dùng dao mổ mở ra một vùng da ở cổ để lấy tế bào giáp trạng làm sinh thiết.

Chữa trị

Tùy theo loại ung thư, thời kỳ ung thư, kích thước khối u, tuổi tác và ung thư đã lan hay chưa, ung thư tuyến giáp trạng có thể được chữa trị bằng cách giải phẫu, Iodine chứa chất phóng xạ (radioactive iodine), nội tiết tố, ngoại quang tuyến (external radiation), hoặc hóa chất. Đôi khi một hoặc nhiều cách chữa trị được sử dụng cùng lúc.

Khám bệnh định kỳ

Bệnh nhân cần gặp bác sĩ để khám bệnh theo định kỳ. Ngay cả khi không có dấu hiệu nào về ung thư tái phát, vẫn cần thăm bệnh vì mầm ung thư có thể còn sót lại trong cơ thể. Báo cho bác sĩ biết nếu bị bệnh giữa những buổi khám bệnh định kỳ. Ngoài ra, việc theo dõi lượng nội tiết tố giáp trạng rất quan trọng, bác sĩ sẽ đo mực thyroglobulin trong máu (nội tiết tố giáp trạng được dự trữ trong tuyến giáp trạng dưới hình thái thyroglobulin). Khi tuyến giáp trạng bị cắt bỏ, lượng thyroglobulin sẽ rất thấp hoặc không có trong máu. Khi tìm thấy một lượng thyroglobulin cao, có nghĩa là ung thư đã tái phát.
Khoảng 6 tuần lễ trước khi đo lượng thyroglobulin, bệnh nhân phải ngừng uống nội tiết tố giáp trạng và dùng một loại nội tiết tố có hiệu lực ngắn hạn. Tuy nhiên, bệnh nhân cần ngưng tất cả mọi loại nội tiết tố giáp trạng khoảng một tuần lễ trước khi đo thyroglobulin. Việc này bệnh nhân rất mệt mỏi, lên ký. Sau khi thử máu, bệnh nhân sẽ tiếp tục uống nội tiết tố giáp trạng để duy trì cơ thể.
Bác sĩ có thể dùng TSH chích vào cơ thể. Nếu có tế bào giáp trạng còn sót lại, các tế bào này sẽ tạo ra thyroglobulin và lượng thyroglobulin sẽ lên cao trong máu. Bệnh nhân dùng TSH sẽ không cần ngưng uống nội tiết tố giáp trạng.
Bệnh nhân được chữa trị chứng medullary sẽ cần thử nghiệm mức calcitonin và các chất khác trong máu.
Ngoài việc thử máu, việc khám bệnh có thể bao gồm:
– Siêu âm tại cổ để tìm dấu vết ung thư
– Scan toàn thân, bệnh nhân ngưng dùng nội tiết tố giáp trạng trong nhiều tuần lễ hoặc dùng TSH. Bệnh nhân cần ngưng ăn tôm cua (chứa nhiều iodine) trong 1-2 tuần lễ trước khi scan. Bác sĩ chích một lượng nhỏ chất phóng xạ, tế bào ung thư sẽ thu nhận chất phóng xạ, và scan sẽ nhận ra những nơi có tế bào ung thư.
– PET scan: Bác sĩ chích một lượng nhỏ đường phóng xạ, tế bào ung thư dùng đường phóng xạ nhiều hơn tế bào bình thường, và scan sẽ nhận ra những nơi có tế bào ung thư.
– CT scan và MRI

Dinh dưỡng

Dinh dưỡng rất quan trọng trong mọi giai đoạn, trước khi, trong khi và sau khi chữa trị ung thư. Bệnh nhân cần một lượng đầy đủ calorie, protein, sinh tố, và khoáng chất. Khi cơ thể được bồi bổ đúng mức, bệnh nhân thường cảm thấy dễ chịu hơn.
Tuy nhiên, bệnh nhân có thể gặp khó khăn trong việc ăn uống vì nhiều nguyên nhân, mệt mỏi, biếng ăn hoặc khó nuốt thức ăn. Khi dùng hóa chất trị liệu, bệnh nhân có thể không còn nếm được thức ăn, hoặc cho rằng thức ăn không còn hương vị, thơm ngon như trước. Bệnh nhân cũng có thể chịu các phản ứng phụ như biếng ăn, buồn nôn, ói mửa, hoặc tiêu chảy.
Có nhiều cách để bồi bổ cơ thể khi không thể ăn uống đầy đủ. Hãy thảo luận với chuyên viên về dinh dưỡng (registered dietitian) để chọn cách dinh dưỡng thích hợp với đầy đủ calorie, protein, sinh tố (vitamins), và khoáng chất (minerals).
Khi có thể, nên duy trì sự hoạt động, đi bộ, yoga, bơi lội hoặc những hoạt động khác có thể gia tăng năng lực. Nên thảo luận với bác sĩ về việc vận động cơ thể và báo cho bác sĩ biết khi việc vận động gây đau đớn.

Share Button

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

You may use these HTML tags and attributes: <a href="" title=""> <abbr title=""> <acronym title=""> <b> <blockquote cite=""> <cite> <code> <del datetime=""> <em> <i> <q cite=""> <strike> <strong>