Viêm tuyến nước bọt và điều cần biết

Trong các bệnh lý liên quan đến tai mũi họng, bệnh viêm tuyến nước bọt cũng khá hay gặp ở mọi lứa tuổi. Bệnh viêm tuyến nước bọt nếu không được phát hiện và điều trị sớm sẽ dễ chuyển sang giai đoạn mãn tính

Viêm tuyến nước bọt và điều cần biết

Bệnh viêm tuyến nước bọt do tác nhân nào gây ra ?

Tuyến nước bọt là tuyến ngoại tiết có nhiệm vụ tiết ra nước bọt làm trơn miệng giữ cho miệng không bị khô, duy trì cân bằng nồng dộ pH của miệng, giảm chứng hôi miệng, làm trơn các thức ăn giúp cho sự nuốt được dễ dàng, Nước bọt cũng chứa 1 vài enzyme giúp tiêu hóa thức ăn chẵng hạn như enzyme amylase làm tiêu hóa chất đường. Nước bọt cũng có chứa các chất diệt trùng giúp ngăn chận vi trùng phát triển trong miệng. Trung bình mỗi ngày các tuyến nước bọt tiết ra khoảng 1,5 ( 1 lít rưởi ) lít nước bọt.

Bệnh viêm tuyến nước bọt mang tai đơn thuần do các loại vi khuẩn Staphylococcus aureus, do virus Iryfluenza, Parainfluenza, coxsackie… gây nên hoặc do sỏi làm tắc ống dẫn tuyến nước bọt cũng gây viêm. Bệnh thường chỉ tổn thương tại tuyến nước bọt, diễn biến lành tính, tự khỏi hoặc cũng có trường hợp  chuyển sang viêm mạn tính phì đại tuyến.

Biểu hiện: Bệnh nhân thấy vùng tuyến nước bọt mang tai sưng to, sưng lan rộng ra xung quanh tuyến, da vùng tuyến sưng tấy đỏ đau, nói và nuốt đau, có hạch viêm phản ứng ở góc hàm hoặc sau tai cùng bên. Sốt 38 – 39oC, ấn  vùng tuyến mang tai thấy có mủ chảy ra ở miệng ống Stenon.

Biểu hiện lâm sàng của bệnh

Viêm tuyến nước bọt và điều cần biết

Biểu hiện chính là sưng vùng quanh tai và đau. Thể lâm sàng hay gặp là thể quai bịtrẻ em, chỉ ảnh hưởng đến tuyến nước bọt.

Giai đoạn xâm nhập kéo dài trong một thời gian ngắn 24 – 36 tiếng, đây là giai đoạn có khả năng lây nhiễm cao nhất. Lâm sàng: sốt cao, mạch nhanh, mệt mỏi, đau tai

Nhất là khi ăn, sờ vùng tuyến mang tai đôi khi cũng có thể gây đau (Thống điểm Rillet ở quanh tuyến: khớp thái dương hàm, xương chũm, góc hàm dưới), khô miệng và niêm mạc quanh ống stenon đỏ.

Khi xuất hiện những triệu chứng trên ở thời kỳ dịch lưa hành thì cần phải cách ly bệnh nhân .

Điều trị và phòng bệnh có khó không?

Điều trị bằng kháng sinh, chống viêm, giảm phù nề, giảm đau trong vòng 7 – 10 ngày theo kháng sinh đồ bằng đường uống hoặc tiêm. Có thể điều trị bổ sung bằng các loại kháng enzym.

Rửa ống tuyến thường xuyên một cách có hệ thống với các dung dịch kháng sinh. Rửa từ 3 – 4 lần, mỗi lần cách nhau vài ngày, lặp lại trong vòng 4 – 6 tháng. Điều trị theo đúng phác đồ và phải kiên nhẫn mới bảo đảm đạt được lành bệnh vĩnh viễn (thường ở tuổi thiếu niên). Theo một số tác giả, khoảng 80 – 90% bệnh nhân tự lành khi đến độ tuổi 13 – 15 tuổi, có thể do sự thay đổi hoóc môn ở tuổi trưởng thành.

Share Button

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

You may use these HTML tags and attributes: <a href="" title=""> <abbr title=""> <acronym title=""> <b> <blockquote cite=""> <cite> <code> <del datetime=""> <em> <i> <q cite=""> <strike> <strong>